Đệ tử là ai?

Cuốn sách nhỏ này của Mabel Collins, Ánh sáng trên đường, là đèn hiệu. Nó là một trong những cuốn sách rất có giá trị trong lịch sử nhân loại. Mabel Collins không phải là tác giả. Cuốn sách nhỏ này được sinh ra từ vài lời bản chất mà con người đã khám phá đi khám phá lại, và làm mất đi mất lại. Khó giữ gìn chân lí. Chân lí được khải lộ chỉ khi một cá nhân đã đạt tới những đỉnh cao nhất – chỉ thế thôi. Duy nhất những người đang đứng trên những đỉnh cao nhất của ý thức của người mới có thể thoáng nhìn thấy chân lí. Họ nói, họ viết nó ra, họ cố theo cả nghìn lẻ một cách, để thoáng nhìn mà họ đã đạt tới có thể trở thành của cải của mọi người, thành di sản của mọi người. Nhưng những người không ở cùng những đỉnh đó không bao giờ có thể hiểu đúng được những lời này. Bất kì cái gì họ hiểu cũng sẽ là sai, và bất kì cái gì họ diễn giải cũng sẽ là sai. Dần dần, dần dần, tia sáng đầu tiên đó của chân lí bị mất đi và chỉ những lời vô nghĩa bị bỏ lại trong tay chúng ta. Đôi khi ngay cả những lời này bị mất đi, và thế thì những lời tinh tuý đó phải được tìm kiếm lặp đi lặp lại.

Mabel Collins nói rằng bà ấy không phải là tác giả của những lời được thu thập trong cuốn sách nhỏ này, rằng bà ấy chỉ thấy chúng trong các chiểu sâu của thiền. Bà ấy nói, và như vậy thật đúng, rằng những lời này là từ cuốn sách nhỏ tiếng Phạn đã thất truyền. Nó đã tan biến, nó đã bị thất lạc; con người đã mất tiếp xúc với nó. Bà ấy đã có linh ảnh về cuốn sách nhỏ này và bà ấy đã viết nó ra đích xác như bà ấy đã thấy nó trong linh ảnh này.

Trên thế giới này có nỗi sợ mất đi bất kì cái gì có giá trị, nhưng không cần sợ điều đó bị mất đi toàn bộ, vì bất kì khi nào ai đó đạt tới cùng những đỉnh cao đó, bất kì người nào, thế thì nó có thể được khám phá lại. Nhiều kinh sách của thế giới đã được khám phá lặp đi lặp lại như thế này.

Koran đã được khải lộ theo cách này. Khi lần đầu tiên Mohammed nghe thấy chỉ thị đọc ra – và Mohammed đã là người thất học, vô giáo dục – ông ấy đáp, “Làm sao tôi sẽ đọc đây?”

Trong suy ngẫm vài lời bơi lượn trước mắt ông ấy, và một tiếng nói vọng tới từ bên trong, yêu cầu ông ấy đọc. Cho nên Mohammed đã nói, “Tôi phải đọc cái gì? … vì tôi không biết đọc hay viết!” Tiếng nói này đã nói rằng không cần được giáo dục để đọc những lời này, ông ấy phải đơn giản đọc chúng. Mohammed đã rất phân vân bởi điều đã xảy ra. Nó là ảo tưởng, mơ – hay ông ấy đã phát điên? Ông ấy về nhà, trốn trong chăn, và đi ngủ. Ông ấy trở nên phát sốt; toàn thân ông ấy bắt đầu run lên.

Vợ ông ấy hỏi, “Chuyện gì đã xảy ra cho anh thế?” Nhưng trong ba ngày ông ấy đã không nói ngay cả với bà ấy, vì bản thân ông ấy đã không tin rằng điều ông ấy đã thấy có thể là đúng. Và khi bản thân ông ấy đã không thể tin được điều đó, làm sao vợ ông ấy có thể tin được? Bà ấy có thể nói rằng ông ấy đã phát điên, rằng ông ấy bị ấm đầu, rằng bà ấy sẽ gọi thầy thuốc và để ông ấy được điều trị. Ông ấy đã kìm bản thân mình lại trong ba ngày, nhưng tiếng nói này cứ tới đi tới lại bảo ông ấy đọc. Và cùng những lời đó đã lặp đi lặp lại bản thân chúng. Dần dần, dần dần Mohammed bắt đầu nhận ra những lời này, và các dòng của Koran bắt đầu giáng xuống ông ấy. Đây là cách kinh Koran được sinh ra.

Cuốn sách nhỏ này, Ánh sáng trên đường, đã giáng xuống Mabel Collins theo cùng cách. Từng và mọi câu thơ của cuốn sách nhỏ này là có giá trị. Đây là tinh hoa được chưng cất của hàng nghìn và hàng nghìn việc tìm kiếm của mọi người qua hàng nghìn và hàng nghìn năm. Nghe từng và mọi lời một cách thật cẩn thận.

 

Các qui tắc này được viết cho mọi đệ tử: đưa ông tới chúng.

 

Chúng không dành cho mọi người, nhưng chỉ dành cho các đệ tử. Nghĩa của điều này là gì? Những qui tắc này chỉ dành cho những người sẵn sàng học. Những qui tắc này không dành cho mọi người vì có nhiều người không sẵn lòng học.

Đó là lí do tại sao tôi đã nói nếu bạn biết rằng bạn dốt, thế thì ở lại đây – bằng không thì trốn đi, vì chỉ người dốt có thể là đệ tử. Ai đó dốt và biết rằng mình dốt được coi là đủ phẩm chất là đệ tử, là sẵn sàng để học. Người am tường không sẵn sàng học. Đó là lí do tại sao họ vẫn còn dốt, vì họ không sẵn sàng học. Người dốt trở thành khôn vì tính sẵn sàng học của họ, và nghệ thuật và kĩ năng học được gọi là tính đệ tử. Những qui tắc này dành cho những người là đệ tử.

Là đệ tử là ngụ ý cái gì? Đệ tử là ai đó sẵn lòng cúi mình, người hiểu trí huệ là có giá trị hơn bản ngã riêng của người đó; ai đó nói, “Tôi sẽ cúi đầu, tôi sẽ để đầu tôi trên đất nếu tôi có thể có ngay cả một tia sáng. Tôi sẵn lòng đánh mất mọi thứ, tôi sẵn lòng thậm chí từ bỏ bản thân tôi.”

Là đệ tử ngụ ý là trong khiêm tốn sâu sắc. Là đệ tử ngụ ý cúi xuống để cho tấm lòng trở thành bình bát cảm nhận.

Nếu sông đang chảy, và bạn đang đứng bên cạnh nó – khát nhưng không sẵn lòng cúi xuống – sông sẽ không nhảy lên bàn tay của bạn đâu. Sông không giận bạn; tại từng và mọi khoảnh khắc nó sẵn sàng làm dịu cơn khát của bạn. Nhưng bạn phải cúi xuống, bạn phải cúi xuống và khum hai bàn tay lại… thế thì sông sẽ tới trong bàn tay của bạn, có vậy thôi. Trí huệ cũng không thể được đạt tới mà không cúi mình xuống.

Cho nên những qui tắc này dành cho những người sẵn lòng cúi xuống. Chỉ khát là không đủ. Chúng dành cho những người có thể khum bàn tay lại và cúi xuống, dành cho những người nói rằng cho dù họ phải chết – không thành vấn đề. Họ muốn có khả năng hiểu huyền của sự sống. “Cho dù tôi phải nằm như bụi dưới chân thầy – không thành vấn đề. Tôi muốn có khả năng nếm trải cái bản chất của cuộc sống, nghĩa của nó, chủ định của nó; tại sao tôi ở đây.” Những qui tắc này không được ngụ ý dành cho những người bị hướng theo việc bảo vệ bản thân họ, không dành cho những người không có ham muốn chút nào để cúi xuống.

Cho nên nghĩ về nó đi, và nếu bạn có tinh thần của đệ tử trong bạn, chỉ thế thì bạn sẽ có khả năng hiểu những qui tắc này. Và nếu bạn có thể hiểu chúng, chỉ thế thì bạn sẽ có khả năng dùng chúng.

Mọi ngày tôi thấy mọi người tới, những người muốn có sự thông thái; họ không muốn học. Biết về cái gì đó ngụ ý biết mà không phải trả giá bất kì cái gì cho nó. Nhưng học ngụ ý đền đáp lại bản thân người ta. Nghĩa của việc học là cúi xuống trong khiêm tốn. Và nghĩa của sự thông thái là “Chúng ta sẽ thấy…”

Một người bạn tới tôi và tôi hỏi anh ta… Anh ta đã viết cho tôi nhiều lần là anh ta muốn tới, cho nên tôi hỏi anh ta, “Bạn đã viết lặp đi lặp lại cho tôi khi nói rằng bạn muốn tới – nhưng điều đó là về cái gì?” Anh ta nói rằng anh ta muốn thảo luận và trao đổi ý tưởng. Thế là tôi nói, “Nếu bạn tuyệt đối chắc chắn rằng bạn có cái gì đó để nói, thế thì tôi sẵn lòng học từ bạn theo tinh thần đệ tử. Nhưng nếu bạn không tuyệt đối chắc chắn – và tôi tuyệt đối chắc rằng tôi có cái gì đó – thế thì xin sẵn sàng học theo tinh thần đệ tử. Không ích gì trao đổi theo bạn gợi ý. Hoặc bạn đưa tôi điều bạn có, hoặc tôi sẽ đưa cho bạn… nếu bạn sẵn sàng học. Phỏng có ích gì mà trao đổi ý tưởng? Nếu bạn có nó, và tôi cũng có nó, thế nữa vấn đề xong rồi. Có cái gì để trao đổi? Và nếu cả hai chúng ta chẳng có gì, thế thì chúng ta sẽ trao đổi cái gì? Nếu một trong hai chúng ta mà có nó, thế thì có thể có việc cho và nhận.” Cho nên tôi nói, “Trước hết chúng ta quyết định về điều này đã.”

Anh ta trở nên rất không thoải mái. Anh ta đã không thể nói được rằng anh ta đã có nó – và anh ta đã không có nó. Anh ta đã không thể thừa nhận chừng nấy vì điều đó chắc đã làm đau bản ngã của anh ta. Anh ta chắc sẽ không chấp nhận rằng anh ta có cái gì đó để học từ ai đó. Cho nên anh ta nói, “Tôi sẽ nghĩ về nó và thế rồi tôi sẽ quay lại.”

Tôi nói, “Nếu bạn có nó, thế thì cái gì có đó để nghĩ tới? Và nếu bạn không có nó thế nữa, chẳng có gì để nghĩ tới… vì vấn đề là rõ ràng!” Tôi nói với anh ta, “Bạn sẽ không có khả năng quay lại nếu bạn nghĩ về nó.” Và cho tới giờ anh ta đã không quay lại.

Anh ta chỉ muốn trao đổi ý tưởng. Nhưng những ý tưởng đó chắc đã là giả: như hai người mù cố chỉ cho nhau đường đi. Đó là điều việc trao đổi ý tưởng ngụ ý.

Có lần Mahavira và Phật đã ở trọ lại trong cùng nhà trọ caravanserai, nhưng họ đã không gặp nhau. Điều đó dường như là kì lạ; vì chúng ta nghĩ nếu hai người trí huệ gặp nhau, đó phải là điều tốt… nhiều người thế cứ tự hỏi tại sao họ đã không gặp gỡ. Những người không có hiểu biết thực về tính tôn giáo phải nghĩ rằng bản ngã giữ cho họ khỏi gặp nhau. Người Jaina nghĩ, “Tại sao Mahavira phải làm nỗ lực để gặp Phật? – ông ấy là toàn tri! Và nếu Phật mà muốn gặp ông ấy, Phật có thể đã tới và gặp ông ấy.” Các Phật tử nghĩ, “Tại sao Phật phải làm nỗ lực để gặp Mahavira? Ông ấy là toàn tri. Nếu như Mahavira mà muốn gặp ông ấy, ông ta có thể đã tới gặp ông ấy.”

Nhưng lí do tại sao Mahavira và Phật đã không gặp gỡ là khác – không có nghĩa trong việc gặp gỡ, không có chủ định. Không có nghĩa trong việc gặp gỡ của hai người dốt và tương tự không có nghĩa trong việc gặp gỡ của hai người trí huệ nữa. Nếu người dốt và người trí huệ gặp gỡ, thế thì cái gì đó có thể xảy ra; bằng không thì không cái gì có nghĩa xuất hiện. Hữu dụng gì của hai người trí huệ gặp nhau? Không có hữu dụng, không có nghĩa. Hữu dụng gì của hai người dốt gặp nhau? Không có hữu dụng, không có nghĩa. Chỉ qua gặp gỡ của người dốt và người trí huệ cuộc cách mạng nào đó có thể tới.

 

Những qui tắc này được viết cho mọi đệ tử…

 

Nghĩa của lời kinh này là ở chỗ khi bạn đi tới thầy, khi bạn đi tới ai đó đã biết, nếu bạn thực sự muốn cách mạng xảy ra cho bạn, thế thì đi với thái độ rằng bạn không biết. Những lời kinh này dành cho những người như vậy. Chỉ thế thì cách mạng sẽ xảy ra, chỉ thế thì biến đổi sẽ xảy ra.

 

Từ “Tiếng nói của im lặng”, Ch.1 Tham vọng

Để lại một bình luận