Sự tồn tại có là vấn đề không? Nếu nó là vấn đề, thế thì các triết gia có thể giúp, thế thì các chuyên gia là hữu dụng. Nhưng các triết gia đã thất bại hoàn toàn. Trong hết thế kỉ nọ tới thế kỉ kia họ đã từng suy nghĩ và suy nghĩ. Không cái gì đi ra từ việc nghiền ngẫm của họ, không kết luận nào được đạt tới, không chân lí nào được đạt tới. Cái gì đó về căn bản là sai với thái độ của họ.
Không phải là họ thiếu năng lực, năng lực của họ là hoàn hảo. Họ là tuyệt đối hiệu quả. Nhưng bằng cách nào đó họ đã lầm sự tồn tại là vấn đề. Nó không phải vậy. Nó không có đó để được giải, nó có đó để được sống! Nếu nó mà là vấn đề nó chắc đã có thể được giải từ lâu trước đây. Nó không phải là vấn đề chút nào. Nó phải được sống. Sự sống không tách rời khỏi bạn, để được giải quyết như vấn đề, nó là bạn. Ai sẽ đi giải ai?
Sự tồn tại không có đó bên ngoài bạn. Nó là ở bên trong bạn, nó là chính bên trong của bạn. Và sự tồn tại là không tách rời; bạn là một phần của nó, về nguồn gốc là một với nó. Làm sao con sóng có thể giải đại dương? Đại dương không phải là vấn đề cho con sóng, nó là cái gì đó để được sống. Và đại dương là không tách rời; thực ra đại dương đang dậy sóng. Sóng và đại dương không phải là hai thứ: chúng là một sự thống nhất.
Bạn là sự tồn tại, sự tồn tại là bạn. Ai sẽ giải điều đó và làm thế nào?
Triết học bắt đầu từ sự bắt đầu sai. Nó coi đương nhiên là có vấn đề. Nó không bao giờ nghi ngờ chính nền tảng – rằng có thể không có vấn đề. Một khi bạn bắt đầu sai, bạn cứ tiếp tục thế mãi, và nếu bước đầu tiên đã là sai, bước cuối cùng đã bị bỏ lỡ. Từ việc bắt đầu sai không ai có thể đi tới kết thúc đúng; đó là lí do tại sao triết học liên tục lí thuyết hoá, triết lí hoá. Chính thái độ của nó là tới mức nó biến mọi thứ thành vấn đề.
Một triết gia lớn, một giáo sư triết học, bị ốm, ốm tinh thần. Ông ấy được phân tâm, được điều trị. Ông ta bắt đầu cảm thấy khá hơn chút ít. Và thế rồi nhà phân tâm nói, “Bây giờ điều tốt là ông đi lên núi. Trời nóng ở đồng bằng và thay đổi khí hậu sẽ giúp cho ông. Cho nên đi lên Himalayas đi.”
Triết gia này đi. Ở đó ông ta cảm thấy rất thoải mái. Núi phủ đầy băng, và nó im lặng tới mức ông ta cảm thấy một loại lâng lâng dâng lên trong mình. Ngay lập tức ông ta đánh điện tín cho nhà phân tâm: “Tôi cảm thấy hạnh phúc. Sao vậy?”
Chính thái độ của triết học là làm ra vấn đề từ bất kì cái gì và mọi thứ. Nếu bạn hạnh phúc – sao vậy? Điều đó nữa trở thành vấn đề. Làm sao giải nói? Nếu bạn buồn, tất nhiên, tại sao? Nếu bạn hạnh phúc, lại: tại sao? Với triết gia dù hoàn cảnh là gì cũng không tạo ra khác biệt – ông ta tạo ra vấn đề từ nó. Triết gia là người tạo vấn đề. Đầu tiên ông ta tạo ra vấn đề, và thế rồi ông ta bắt đầu giải chúng.
Ngay chỗ đầu tiên vấn đề là giả, chúng không có đó. Hạnh phúc có đó. Không có dấu chấm hỏi quanh nó, dấu chấm hỏi đã được thêm vào bởi triết gia. Hạnh phúc đơn giản tồn tại, không có tại sao. Sự tồn tại hiện hữu, không có tại sao. Cây hiện hữu, hoa hiện hữu… chim hót, mây trôi trên trời – không có tại sao. Cái tại sao được triết gia thêm vào, và một khi tại sao được thêm vào và dấu chấm hỏi có đó, tất nhiên ông ta phải giải nó. Và làm sao bạn có thể giải được vấn đề mà không tồn tại? Bất kì cái gì bạn làm sẽ tạo ra nhiều vấn đề hơn. Bạn sẽ tìm ra một câu trả lời – bạn nghĩ nó giải xong. Ngay lập tức câu trả lời đó tạo ra nhiều câu hỏi hơn.
Cho nên triết học đã từng đơn giản là việc tìm nhiều câu hỏi hơn, nhiều cái tại sao hơn. Thậm chí không một câu trả lời nào đã được trao bởi nó. Trong hàng nghìn năm các triết gia đã từng nghiền ngẫm. Không cái gì đi ra từ điều đó vì ngay chỗ đầu tiên không cái gì đã được đặt vào. Cái tại sao là rỗng. Triết học là nỗ lực ngớ ngẩn nhất của nhân loại.
Sự tồn tại không phải là vấn đề để được giải, nó là huyền để được sống. Và bạn phải nhận biết hoàn hảo khác biệt là gì giữa huyền và vấn đề. Vấn đề là cái gì đó được tâm trí tạo ra; huyền là cái gì đó đang có đó, không được tâm trí tạo ra. Vấn đề có cái xấu trong nó, như bệnh. Huyền là đẹp. Với vấn đề, lập tức tranh đấu nảy sinh. Bạn phải giải nó; cái gì đó sai, bạn phải đưa nó về đúng; cái gì đó bị thiếu, bạn phải cung cấp móc nối bị thiếu. Với huyền không có vấn đề như vậy.
Trăng mọc trong đêm…. Nó không phải là vấn đề, nó là huyền. Bạn phải sống cùng nó. Bạn phải múa cùng nó. Bạn phải hát cùng nó, hay bạn có thể chỉ im lặng cùng nó. Cái gì đó huyền bí bao quanh bạn.
Triết gia đã hoàn toàn quên mất ngôn ngữ về huyền. Huyền là tự nhiên. Vấn đề do người tạo ra. Nếu người không ở trên trái đất, huyền sẽ có đó, nhưng sẽ không có vấn đề. Quạ sẽ kêu, và chúng sẽ không hỏi tại sao. Chim cúc cu sẽ liên tục hót, và không ai sẽ hỏi tại sao. Cây sẽ nở hoa như chúng bao giờ cũng đã từng nở hoa; không ai sẽ ngồi bên dưới và triết lí hoá. Sự sống không bận tâm về việc triết lí hoá. Đó là nỗ lực ngu xuẩn – nhưng rất đáp ứng bản ngã, vì bạn tạo ra vấn đề, thế rồi bạn cố tìm ra giải pháp, thế rồi nhiều vấn đề được tạo ra…. Bạn bắt đầu cảm thấy rằng bạn đang làm cái gì đó lớn lao.
Bạn chẳng làm cái gì cả. Không cái gì có đó, chỉ những lời hoa mĩ, những lời khoác lác trong tâm trí mà bạn gọi là ý nghĩ. Những rì rầm, lẫn lộn, hỗn độn. Triết gia bỏ lỡ sự sống hoàn toàn. Ông ta phớt lờ sự sống, hoàn toàn vô nhận biết rằng đã có cái gì đó để được sống, được yêu; rằng đã có cái gì đó để được hội nhập vào; rằng đã có cái gì đó nổi cùng; rằng đã có cái gì đó để múa cùng và trở thành một cùng. Triết gia là tâm trí đóng, hoàn toàn chống sự sống. Sự sống không xuyên thấu vào ông ta.
Và những triết gia này trở thành những chuyên gia lớn về sự sống vì họ có thể nói, họ là những người nói giỏi. Họ có thể tạo ra vấn đề nơi không tồn tại vấn đề, và thế rồi họ liên tục cung cấp câu trả lời cho chúng. Họ tự cung tự cấp, họ không cần bất kì ai. Họ tạo ra vấn đề và thế rồi họ tạo ra giải pháp. Và thế rồi họ tạo ra mỗi lúc một nhiều câu hỏi hơn, và họ cứ tiếp diễn thế mãi. Họ tạo ra ảo tưởng quanh họ rằng họ biết.
Ở Ấn Độ, chúng ta không có từ như philosophy-triết học trong tiếng Ấn Độ. Từ Hi Lạp này ngụ ý yêu tri thức. Chúng ta không có bất kì từ nào giống như thế. Và từ chúng ta có là khác toàn bộ: nó là darshan. Nó ngụ ý năng lực thấy. Không phải là yêu tri thức, mà là yêu việc nhận ra. Không phải là yêu hướng tới ngày càng nhiều tri thức hơn, không, nhưng là yêu hướng tới cái nhìn lớn hơn, rõ ràng hơn. Đó là lí do tại sao chúng ta gọi những người đã biết là người thấy – những người đã nhìn thấy. Sự sống phải được sống và được thấy, không phải là nghĩ về. Triết học tạo ra các chuyên gia, và những chuyên gia đó liên tục cho bạn các câu trả lời, mà lại là sai. Toàn thể nỗ lực của triết học là nỗ lực sai, và đây là một trong những hệ thống nỗ lực con người lớn nhất để biết.
Hệ thống thứ hai là khoa học. Khoa học đương nhiên coi sự sống là thách thức; không phải là vấn đề theo nghĩa của triết gia, nhưng là thách thức. Người ta phải tranh đấu. Đó là lí do tại sao nhà khoa học liên tục đi theo kiểu chinh phục tự nhiên: dường như có kẻ thù, không phải vấn đề, nhưng là kẻ thù đang thách thức bạn và là kẻ thù mà bạn phải chinh phục. Nhà khoa học trở thành chiến binh, người chinh phục. Họ tranh đấu với tự nhiên. Nhưng làm sao bạn có thể sống nếu bạn bắt đầu bằng ghét? Khoa học dựa trên thù hận, thù địch, sợ hãi, dường như sự sống có đó bao quanh bạn như kẻ thù: không như mẹ bạn, không phải cái gì đó được yêu thương, không chăm nom bạn, nhưng sẵn sàng giết và phá huỷ bạn. Khoa học đã lấy thái độ hận thù, và qua điều đó, khoa học liên tục tranh đấu. Nếu bạn tranh đấu, bạn lại bỏ lỡ.
Triết học lí thuyết hoá, và bỏ lỡ. Khoa học tranh đấu, và bỏ lỡ. Làm sao bạn có thể sống nếu từ chính lúc bắt đầu toàn thể thái độ của bạn được dựa trên thù địch?
Nhà khoa học sống cuộc sống hoang mạc. Ông ta có thể được giải thưởng Nobel, nhưng sự sống không bao giờ thưởng cho ông ta. Sự sống không bao giờ tới gần gũi với ông ta. Ông ta không cho phép việc gần gũi đó với sự sống. Ông ta bao giờ cũng đi tìm cách thức và phương tiện để chinh phục. Hệ thống khoa học có tính hung hăng, nó là bạo hành. Nó cưỡng đoạt tự nhiên.
Cho nên nhà khoa học có thể có được vài sự kiện đây đó. Họ có thể vồ lấy cái gì đó, như kẻ cướp có thể vồ. Điều đó là có thể: bạn có thể ăn cắp, bạn có thể cướp vài sự kiện từ sự sống. Sự sống sẽ trao vài sự kiện đó cho bạn một cách rất miễn cưỡng. Cứ dường như bạn tụ tập vài mảnh vụn trên bàn của hoàng đế, nhưng bạn không trở thành hoàng đế… bạn vẫn còn là kẻ ăn xin, hay kẻ cướp, và sự sống đã có đó sẵn sàng để đeo vương miện cho bạn làm hoàng đế.
Không có nhu cầu tranh đấu vì sự sống là mẹ – bạn bắt nguồn từ nó! Bạn được sinh ra từ sự tồn tại, sự tồn tại mang bạn trong bụng mẹ của nó; làm sao sự tồn tại có thể thù địch với bạn được, nó đã bảo vệ bạn, nó vẫn bảo vệ bạn. Bạn bắt nguồn từ nó và bạn tan biến vào trong nó lần nữa. Bạn là một phần của nó: một bàn tay được tự nhiên giơ lên. Mắt, tai… qua tất cả con người bạn, tự nhiên đang cố đạt tới chiều cao ý thức nào đó. Bạn không là kẻ thù, bạn là đứa con được yêu thương.
Đó là nghĩa của lời Jesus nói cho bản thân ông ấy, “Ta là con và Thượng đế là cha.” Người Do Thái không bao giờ hiểu ông ấy, điều ông ấy đã nói: ông ấy đã nói rằng sự sống là gia đình, sự tồn tại không thù địch, nó là mẹ của ông, nó là cha của ông. Ông là con, được nó yêu thương, được nó nuôi dưỡng. Cái gì đó được ngụ ý qua ông, ý nghĩa lớn lao hơn nào đó phải tiến hoá bên trong ông. Đừng tranh đấu, vì nếu ông bắt đầu tranh đấu với người bạn, ông sẽ tạo ra rào chắn không cần thiết cho bản thân ông.
Khoa học tạo ra thái độ tranh đấu; đó là lí do tại sao khoa học đã rất rất có tính phá huỷ. Triết gia đã thất bại, nhưng họ đã không làm hại gì cho bất kì ai. Họ đã thất bại toàn bộ tới mức họ không thể làm bất kì hại nào. Khoa học đã là thành công, và khoa học đã làm què hoàn toàn sự sống. Bây giờ, ở mọi nước mà khoa học đã trở nên rất được phát triển, nó đã trở thành mối đe doạ. Toàn thể môi trường sinh thái trở nên tồi tệ. Sông và hồ đang trở nên chết, cây đang chết. Bản thân đất đang chết, đang trên giường chết. Toàn thể bầu không khí bị đầu độc. Và có hoảng sợ trong những người biết, vì dường như không có khả năng nào dừng điều đó lại – vì ai sẽ dừng nó lại? Bản thân các nhà khoa học giờ bị bất lực. Họ đã thả ra con quỉ; giờ họ không biết làm sao nhét nó lại vào trong chai. Và các chính khách sẽ không cho phép họ đặt nó trở lại vào trong chai.
Hai kiểu người điên đã gắn lại với nhau: chính khách và nhà khoa học. Nhà khoa học liên tục cung cấp cho họ các bí mật và chính khách liên tục dùng những bí mật đó ở Hiroshima, ở Nagasaki, và trong cuộc sống mọi ngày. Công nghệ đang giết toàn thể tự nhiên một cách đầy đủ. Mọi thứ đang biến mất… vì sự tồn tại là một toàn thể cố kết: nếu bạn phá huỷ một phần của nó, cái toàn thể bị ảnh hưởng. Chung cuộc một ngày nào đó toàn thể hệ thống sụp đổ. Đây là cách mọi sự đang xảy ra.
Khoa học đã là con dao găm đâm vào lưng của tự nhiên. Các triết gia đã không làm hại gì mấy – họ không thể làm được vì họ là thất bại tuyệt đối – nhưng khoa học đã làm hại nhiều. Bây giờ kẻ thù lớn nhất ngày nay là khoa học. Và tại sao nó gây hại thế? – vì từ chính lúc bắt đầu sự thù địch đã là ở cơ sở. Hận thù, không yêu thương… thù địch với sự sống, không tình bạn. Khoa học đã tạo ra ý tưởng trong nhân loại rằng bạn là vị khách không được chấp nhận ở đây và bạn không ở nhà. Bạn phải tranh đấu. Từ Darwin tới Einstein họ đã từng dạy sự sống sót của kẻ mạnh nhất – dường như sự sống chỉ là cuộc đấu tranh! Sự kiện là khác hơn, chính điều ngược lại. Sự sống là việc hợp tác bao la.
Hoàng tử Kropotkin ở gần với chân lí hơn là Charles Darwin. Hoàng tử Kropotkin nói – và ông ấy là người tôn giáo, người tôn giáo thực sự – ông ấy nói rằng hợp tác là cơ sở của sự sống, không phải là đấu tranh, và vấn đề không phải là sự sống sót của kẻ mạnh nhất, vì nếu đó là vấn đề sống sót của kẻ mạnh nhất, thế thì sức mạnh trở thành đúng. Vấn đề không phải là sống sót của kẻ mạnh nhất; những thứ dịu dàng nhất cũng sống sót. Nhìn hoa kia! Chúng không phải là những Adolf Hitler, và chúng đã sống sót. Nhìn chim kia, những con chim nhỏ, hót những điệu hót hay: chúng không phải là những Thành Cát Tư Hãn và Alexander, và chúng đã sống sót. Sự sống phải là việc hợp tác sâu – nó là vậy. Mọi thứ đang hợp tác; đó là một toàn thể càn khôn, tương thuộc.
Nhìn đấy: đất liên tục nuôi cây, mặt trời liên tục nuôi cây, không khí liên tục nuôi cây, và thế rồi quả được sinh ra. Quả đó nuôi bạn. Nó trở thành thân thể bạn, nó tuần hoàn trong máu bạn. Nó trở thành xương bạn, nó trở thành tim bạn, nó trở thành não bạn, nó trở thành chính tuỷ của não bạn. Thế rồi một ngày nào đó bạn chết. Sâu bọ bắt đầu ăn bạn. Thế rồi sâu bọ chết, chúng được tái hấp thu vào trong đất. Cây bắt đầu ăn đất. Quả lại sẽ tới. Cháu bạn sẽ ăn bạn trong quả. Mọi thứ được quan hệ, được tương quan với nhau, được kết nối. Bạn đã từng ăn ông của bạn, bà của bạn; họ lại được tái hấp thu! Bạn sẽ được tái hấp thu.
Sóng tới và đi, đại dương còn lại – và từng con sóng được kết nối với con sóng khác. Quá khứ và tương lai – bạn được liên kết với toàn thể quá khứ, bạn là một móc nối; và bạn được liên kết với toàn thể tương lai sắp diễn ra ở đó. Bạn là một móc nối trong dây chuyền, và nếu một móc nối bị vỡ ra, toàn thể dây chuyền đau. Đó là sự hợp tác. Không ai là độc lập và không ai là phụ thuộc, vì ngay cả để là phụ thuộc bạn phải là tách rời. Không, vấn đề không phải là độc lập hay phụ thuộc. Sự sống là liên thuộc. Không ai là độc lập và không ai là phụ thuộc, mọi người là liên thuộc.
Cho nên tôi gọi những người dạy về độc lập là đấng cứu tinh rởm, vì đó là thái độ sai, không đúng với sự sống. Không ai có thể là độc lập. Nếu bạn cố làm điều đó, bạn là ngu. Bạn có thể đi lên Himalayas và bạn có thể cố là độc lập: bạn không thể là độc lập được, vì ở đó nữa bạn sẽ là một phần của tính liên thuộc mà là sự sống.
Các sư đã từng cố gắng khắp nhiều thế kỉ để trở thành độc lập toàn bộ vì họ nghĩ nếu bạn là phụ thuộc thế thì bạn ở trong giam hãm. Cho nên thoát li khỏi vợ, thoát li khỏi con, thoát li khỏi xã hội; nhưng bạn sẽ thoát li ở đâu khỏi ô xi? Bạn sẽ thoát li ở đâu khỏi nước? Bạn sẽ thoát li ở đâu khỏi thức ăn? Bạn sẽ thoát li ở đâu khỏi mặt trời và mặt trăng? Bất kì chỗ nào bạn đi bạn sẽ vẫn còn là một phần của hình mẫu liên nối của sự sống.
Bạn không bao giờ có thể trở nên độc lập, độc lập tuyệt đối là không thể được, vì điều đó có nghĩa bạn trở thành một đơn vị cô lập, bạn trở thành hòn đảo – và không tồn tại hòn đảo. Đảo mà bạn thấy trên đại dương, chúng cũng không phải là tách rời, chúng cũng là một phần của lục địa ẩn bên dưới biển. Không đảo nào tồn tại. Không ai có thể là độc lập. Nó là liên thuộc. Nó là sự hợp tác sâu.
Đừng bắt đầu bằng thù địch; bằng không bạn sẽ phá huỷ sự sống và toàn thể năng lượng của bạn sẽ bị tham gia vào việc phá huỷ – và sự tồn tại có tính sáng tạo. Bạn có thể tận hưởng nó, bạn có thể trở thành một với nó, chỉ khi bạn có tính sáng tạo. Và khoa học đã từng có tính phá huỷ. Điều đó không được cần. Hay, một kiểu khoa học khác toàn bộ là được cần, dựa nhiều vào Kropotkin và ít dựa vào Darwin. Một khoa học khác toàn bộ là được cần dựa trên yêu, không dựa trên ghét, dựa trên Lão Tử, không dựa trên Aristotle.
Khoa học phải có tính phương Đông nếu nó là là đúng. Nó không cần logic thế. Nó phải có chút ít yêu thương nhiều hơn, thế thì nó không chống lại tự nhiên, thế thì nó không là cưỡng đoạt, thay vì thế là tán tỉnh. Bạn tán tỉnh tự nhiên. Tự nhiên trở thành cô dâu, bạn trở thành chú rể. Bạn tán tỉnh tự nhiên, bạn thuyết phục tự nhiên để lộ ra bí mật của nó. Người yêu cũng thuyết phục đàn bà, và người đàn bà để lộ ra mọi thứ mà cô ấy có thể để lộ ra, mọi thứ mà cô ấy có. Cô ấy để lộ ra chính tấm lòng của mình.
Và thế rồi đàn ông có thể cưỡng hiếp đàn bà. Cưỡng hiếp và làm tình có thể có vẻ tương tự từ bên ngoài, nhưng chúng không như nhau, vì khi bạn cưỡng hiếp người đàn bà cô ấy đơn giản co lại, cô ấy đóng. Bạn có thể cưỡng hiếp thân thể, nhưng bạn không thể cưỡng hiếp hồn. Hồn vẫn còn trong trắng. Nó đơn giản co lại. Đàn ông cưỡng hiếp đàn bà không bao giờ chạm được tới hồn cô ấy – anh ta không thể làm được. Và đó là điều đã xảy ra với khoa học. Khoa học đã cưỡng hiếp tự nhiên. Đáng ra khoa học có thể đã là yêu.
Và khoa học đã tích luỹ nhiều tri thức chuyên gia về mọi thứ. Nếu bạn phải chứng minh bất kì cái gì bạn chỉ phải nói rằng khoa học nói vậy đấy: thế là đủ! – không ai nghi vấn điều đó. Điều đó đã được chứng minh nếu khoa học nói vậy. Khoa học là mô hình về mê tín. Ngày xưa chỉ cần nói rằng Veda nói vậy là đủ, hay Kinh Thánh nói vậy, hay điều đó được viết trong Koran là đủ; và nếu bạn có thể chỉ ra rằng nó đã được viết trong Koran – xong chuyện, thế thì không ai hỏi liệu nó là đúng hay sai. Nếu nó được viết trong Koran, trong Veda, nó phải là đúng; nếu bạn có thể chứng minh rằng nó đã có trong Veda, thế là đủ. Bây giờ nếu bạn có thể chứng minh rằng các nhà khoa học nói vậy, thế là đủ.
Ai là những nhà khoa học này? Họ đã làm cái gì? Họ là chuyên gia. Họ đã thu thập vài sự kiện. Nhưng họ không biết sự sống là gì vì sự sống không bao giờ có thể được biết qua phân tích, qua mổ xẻ.
Bạn yêu người đàn bà, thân thể đẹp, nhưng bạn không đi tới nhà giải phẫu để hỏi liệu thân thể này là đẹp hay không. Nhà giải phẫu tất nhiên biết nhiều thân thể, biết sâu hơn bất kì người nào khác; ông ta đã từng mổ xẻ, ông ta đã mổ cắt cả nghìn thân thể. Nhưng đừng đi tới nhà giải phẫu vì một thân thể bị cắt ra thì không còn là sống, và cái đẹp thuộc về sự sống. Bị phân tích, một thứ trở thành chết. Sự sống tồn tại như một toàn thể. Bạn không thể giải phẫu nó. Nếu bạn muốn biết nó, và cái đẹp và cái duyên dáng của nó, bạn phải quan sát nó trong khi nó còn đang sống. Bạn phải yêu nó như nó vậy – sống động. Nếu bạn cố cắt nó ra và thấy những phần bên trong nhất, và cách chúng vận hành và cái gì đang xảy ra bên trong, bạn có thể dần biết về cái máy của thân thể nhưng bạn đã bỏ lỡ hồn.
Hồn sống trong sự thống nhất – sự thống nhất là hồn. Và hồn là lớn hơn mọi bộ phận được gắn lại với nhau. Hồn bao quanh mọi bộ phận – thực ra hồn giữ mọi bộ phận được gắn với nhau. Một khi hồn đã rời khỏi thân, thân bắt đầu hư hỏng. Trong vòng vài giờ thân chết đi, mọi thứ rời ra. Bạn bỏ lại thân thể ở đó vài ngày và nó đã trở thành một với đất. Ai đã giữ cho cái toàn thể là cái toàn thể? Ai đã giữ mọi thứ gắn lại với nhau? Cội nguồn của sự cùng nhau này là gì?
Một ham muốn nảy sinh trong tôi – tôi cảm thấy khát; tay tôi lập tức với tới nước. Tính thống nhất này từ đâu tới? Ham muốn nảy sinh – ham muốn không ở trong tay, tay không bao giờ cảm thấy khát. Họng tôi cảm thấy khô. Tôi cảm thấy khát. Khát đó được ghi trong não, được hồn chứng kiến. Tay không bao giờ cảm thấy khát, nhưng ngay lập tức, không có bất kì mệnh lệnh nào, không có bất kì thông điệp nào được trao cho tay, nếu họng cảm thấy khát não lập tức bắt đầu vận hành. Không một khoảnh khắc bị mất – tay vươn tới nước. Tay, họng, não – chúng vận hành cùng nhau.
Phải có cái toàn thể hữu cơ giữ mọi bộ phận gắn với nhau. Cái toàn thể đó là hồn. Bạn không thể giải phẫn thân thể và đi tới biết hồn, vì khoảnh khắc bạn giải phẫu, nó mất rồi. Nó có đó chỉ khi sự thống nhất đang vận hành. Nó là chính sự thống nhất này.
Nếu bạn đi tới nhà khoa học để hỏi về sự sống họ có nhiều câu trả lời, nhưng mọi câu trả lời của họ đều thuộc về chết nhiều hơn là sống, vì họ đã từng tranh đấu, phá huỷ, mổ xẻ, phân tích. Trong toàn thể quá trình này họ đã bỏ lỡ sự sống. Họ sẽ không bao giờ đi tới đương đầu với nó; đó là lí do tại sao họ bao giờ cũng nói rằng không có hồn – vì họ không bao giờ đương đầu với nó trong phòng thí nghiệm của họ. Họ đã giải phẫu nhiều thân thể và họ không bao giờ đi tới thấy bất kì hồn nào. Trước khi họ bắt đầu giải phẫu, hồn đã rời đi. Họ sẽ không bao giờ đi tới biết nó, và khoa học sẽ liên tục phủ nhận rằng có bất kì hồn nào, và khoa học sẽ liên tục phủ nhận rằng có bất kì Thượng đế nào. Nhưng đây không phải là vấn đề, liệu có hay không có Thượng đế, vì chính phương pháp của khoa học ngăn cấm… chính phương pháp trở thành rào chắn.
Từ “Y như vậy”, Ch.4 Hỏi chuyên gia
