Thế rồi có hệ thống thứ ba, cái là nghệ thuật. Ba hệ thống này tạo ra các chuyên gia về: triết học, khoa học và nghệ thuật. Đây là ba chiều theo đó tâm trí con người vận hành. Nghệ thuật không quan tâm tới việc lí thuyết hoá, và nghệ thuật không quan tâm tới việc giải phẫu; đó là lí do tại sao nghệ thuật ở gần tôn giáo hơn bất kì cái gì khác. Triết gia là ở xa nhất. Bạn có thể đã nghĩ khác hơn, nhưng triết gia là xa nhất khỏi tôn giáo. Ngay cả nhà khoa học cũng còn ở gần hơn, vì nếu tổn tại quan hệ ghét, nó có thể được chuyển thành quan hệ yêu, vì ghét không là gì ngoài yêu đứng lộn ngược.
Cho nên một Einstein có thể trở thành có tính tôn giáo dễ hơn nhiều so với một Bertrand Russell. Ít nhất ông ấy ghét. Ít nhất ông ấy đang tranh đấu với sự sống – ngay cả tranh đấu cũng là cách để sống; ngay cả tranh đấu cũng là khoảnh khắc sống. Nhà khoa học không chỉ ở trong lí thuyết, ông ấy đang làm thực nghiệm. Triết gia ngồi với mắt nhắm, nghĩ về “đàn bà”: nhiều tưởng tượng. Nhà khoa học đang cưỡng hiếp đàn bà. Ít nhất điều đó là tốt hơn triết gia, ít nhất đàn bà thực có đó. Có thể mối quan hệ đúng không tồn tại giữa đàn ông, kẻ cưỡng hiếp và đàn bà, người bị cưỡng hiếp, nhưng một kiểu quan hệ nào đó tồn tại. Ngay cả kẻ thù cũng có quan hệ với bạn.
Nhà khoa học có thể được chuyển đổi – và điều xảy ra là nhiều nhà khoa học dần dần, khi họ trở nên già hơn, với hiểu biết nhiều hơn, bắt đầu quay sang tôn giáo. Nhưng các triết gia vẫn còn ương ngạnh. Tới chính tận cùng họ vẫn liên tục nói những điều vô nghĩa và các lí thuyết này nọ của họ. Nhà khoa học bởi nỗ lực tranh đấu cả đời của mình, trong sát hại tự nhiên, có thể đột nhiên thức tỉnh. Toàn thể cuộc sống của ông ấy có thể lấy bước ngoặt một trăm tám mươi độ. Điều đó là có thể. Thù có thể trở thành bạn bất kì ngày nào. Các bạn ít nhất có quan hệ – sai đấy, nhưng ít nhất có quan hệ.
Xa nhất khỏi tôn giáo là triết gia, hệ thống triết lí. Gần hơn triết lí là khoa học, và gần hơn khoa học là nghệ thuật.
Nghệ thuật là gì? Nghệ thuật đang làm gì trên thế giới? Nghệ thuật giống như đứa trẻ – vui thích bướm, đuổi theo chúng. Nghệ thuật là thái độ như trẻ con. Nó cố làm cho sự sống đẹp hơn chút ít. Nó là việc trang trí nội thất; nó trang điểm cho sự sống. Nó đem phẩm chất mơ cho sự sống. Qua hội hoạ, qua thơ ca, qua âm nhạc, nó tôn cao cái đẹp, cảm giác hạnh phúc. Nó cố cho những vui thú nhất thời một phẩm chất, cái gì đó giống như thường hằng. Nó là nỗ lực để sống, nhưng nó vẫn không phải tôn giáo. Nó không chấp nhận sự sống như đang vậy, nó cố cải tiến sự sống; nó cố làm cho sự sống đẹp hơn. Nó cho cảm giác dường như sự sống thô còn chưa xứng đáng sống. Nó cố cải tiến sự tồn tại. Nó là gần với tôn giáo hơn vì nó cố sống, nhưng dầu vậy nó vẫn không là tôn giáo.
Tôn giáo là cú nhảy vào trong sự tồn tại thô như nó vậy. Tôn giáo chấp nhận một cách toàn bộ. Nó nói không có nhu cầu trang điểm cho sự sống; sự sống đã là bài thơ hay tới mức không Shakespeares nào có thể cải tiến được sự sống, không Kalidases nào được cần tới. Nó đã là bài thơ hay tới mức mọi cải tiến chỉ là vô tích sự. Dường như bạn đang cố gắn chân vào cho rắn. Ngu xuẩn! Rắn là hoàn hảo, không cần gắn chân vào rắn. Và nếu bạn gắn chân vào nó thế thì sớm hay muộn ai đó sẽ tới và cố gắn giầy vào chân, và bạn sẽ giết chết con rắn này!
Nghệ thuật đang cố gắn chân vào rắn. Không cần đâu – sự sống trong cái thô sơ là cực kì đẹp, nó hoàn toàn là tuyệt diệu. Tận hưởng nó mà không cái gì thiếu. Bạn càng trang điểm cho nó, nó càng trở nên giả hơn. Nó trở thành giống như mặt được tô vẽ của người đàn bà.
Tôi đã nghe một giai thoại. Chuyện xảy ra là một thánh nhân rất chống lại đàn bà dùng bất kì cách trang điểm nào cho bộ mặt, phấn, son, thế này thế nọ – ông ta rất chống lại họ. Một thánh nhân khác cũng sống ở đó, ngay vùng lân cận, người này lại rất thiên về trang điểm. Thánh nhân thứ nhất thường nói rằng như sự sống vậy, nó là đẹp, không cần cải tiến nó, và bạn không thể cải tiến nó được, đó là lời chung cuộc. Người kia thường nói sự sống là xấu, người ta phải che giấu nó.
Đàn bà thường đi nghe cả hai thánh nhân này và cô ta rất lấy làm phiền toái và bị thách đố. Cô ấy đi tới một chuyên gia, một nhà logic, để hỏi phải làm gì vì thánh nhân này nói cái này và thánh nhân khác nói cái khác. Triết gia, nhà logic, ủ ê nghiền ngẫm điều đó, suy ngẫm về chuyện này, và ông ta nói, “Bà làm một điều: vẽ nửa mặt bà… vì khi hai thánh nhân chống lại nhau đây là câu trả lời logic duy nhất. Ở giữa, đi theo trung đạo.”
Điều này đã xảy ra, điều này đang xảy ra mọi ngày cho bạn. Ai đó đang nói cái gì đó, ai đó khác chống lại điều đó. Bạn làm gì? Bạn thoả hiệp. Bạn tô vẽ nửa mặt của bạn. Bạn trở nên xấu.
Sự sống như nó vậy là hoàn hảo. Đó là lí do tại sao chúng ta nói sự sống là Thượng đế. Thượng đế ngụ ý hoàn hảo; không có bên ngoài cho nó.
Nhưng nghệ thuật tới gần hơn, vì nó không bận tâm tới lí thuyết, nó không bận tâm tới bất kì tranh đấu nào. Nó đơn giản cố trang điểm. Nó đơn giản cố làm cho sự sống thành đẹp hơn chút ít để cho bạn có thể tận hưởng sự sống. Nhưng nó cũng bỏ lỡ nữa, vì sự sống có thể được tận hưởng như nó vậy. Thực ra sự sống có thể được tận hưởng chỉ như nó vậy.
Nghệ thuật là như trẻ con. Triết học thuộc vào tuổi già, với tâm trí tinh ranh. Đó là lí do tại sao bất kì khi nào bạn nghĩ về triết gia bạn bao giờ cũng nghĩ họ rất cổ đại, già cả. Nghệ sĩ bao giờ cũng trẻ con, chơi trên bãi biển, cố thu nhặt đá mầu.
Điều xảy ra lặp đi lặp lại mãi là có những thời kì trong nghệ thuật mà nghệ thuật đơn thuần trở thành tuyệt đối không phức tạp và như trẻ con. Điều đó đã xảy ra với Picasso, và điều đó là sự hấp dẫn của ông ấy: ông ấy vẽ như đứa trẻ. Có nghệ thuật lớn trong nó, nhưng bức tranh có vẻ giống như là của đứa trẻ, dường như ông ấy đã chơi đùa với mầu sắc mà chẳng có ý tưởng phải làm gì… dường như chỉ bằng việc chơi với mầu sắc mà điều đó xảy ra. Nhưng đứa trẻ phải lớn lên vì đứa trẻ chỉ là việc bắt đầu không phải là kết thúc, và nếu đứa trẻ lớn đúng, nó trở nên có tính tôn giáo. Nếu nghệ sĩ trưởng thành đúng, ông ấy trở nên có tính tôn giáo. Nếu ông ấy không trưởng thành, thế thì ông ấy vẫn còn là nghệ sĩ.
Với triết gia việc trở nên có tính tôn giáo là cuộc hành trình dài… rất rất khó khăn, gần như không thể được. Dường như gian truân. Toàn thể con người của ông ấy bị lâm nguy, ông ấy phải phá huỷ hoàn toàn bản thân mình; chỉ thế thì ông ấy mới có thể trở nên có tính tôn giáo. Đó là lí do tại sao các triết gia đã tạo ra trò chơi. Tên của trò chơi này là thượng đế học – theology. Nó không phải là tôn giáo, nó chỉ là thủ đoạn của triết gia để cảm thấy dường như họ có tính tôn giáo. Họ đã nghĩ về chân lí, cái đẹp, thế này thế nọ, thế rồi họ nghĩ về Thượng đế. Thượng đế học ngụ ý logic về theos, logic về Thượng đế. Họ làm Thượng đế thành vấn đề nữa, và họ bắt đầu nghĩ về nó. Thượng đế học là tôn giáo giả. Nó là một phần của triết học, nó chẳng liên quan gì tới tôn giáo.
Với nhà khoa học việc lấy chuyển hướng một trăm tám mươi độ và trở thành người tôn giáo là điều khó, nhưng có thể được, vì khoa học và tôn giáo cả hai đều thuộc về tuổi thanh niên. Cố hiểu điều đó đi: nghệ thuật thuộc về đứa trẻ, triết học thuộc về người già, khoa học và tôn giáo cả hai thuộc về thanh niên. Cả hai cần năng lượng. Khoa học là ghét, tôn giáo là yêu. Khoa học tranh đấu với sự sống, tôn giáo yêu nó.
Đứa trẻ ở gần với thanh niên vì nó sớm hay muộn phải lớn lên. Chừng nào nó chưa là đứa trẻ trì trệ, nó nhất định trở nên có tính tôn giáo. Mọi nghệ sĩ, nếu người đó chuyển động, lớn lên, một ngày nào đó sẽ thấy anh ta đã đi vào đền của điều thiêng liêng. Mọi nhà thơ, mọi nhạc sĩ, mọi vũ công, nếu người đó liên tục trưởng thành, nếu việc trưởng thành của người đó không dừng lại đâu đó ở giữa, thế thì anh ta sẽ trở nên có tính tôn giáo. Điều đó là hậu quả tự nhiên của việc là nghệ sĩ.
Nhà khoa học sẽ phải lấy việc quay ngoắt một trăm tám mươi độ. Ông ta không thể trưởng thành vào tôn giáo; ông ta phải thay đổi bản thân mình, chiều hướng của mình. Ông ta có thể dễ dàng trưởng thành triết gia. Nhiều nhà khoa học thế trong tuổi già của họ – Eddington, James Jeans – tất cả họ đều trở thành triết gia. Điều đó là dễ.
Với người tôn giáo, không thể nào trưởng thành trong tuổi già vì người tôn giáo không bao giờ già; người đó trưởng thành và trưởng thành và trưởng thành, và trở nên ngày càng trẻ hơn. Người đó không bao giờ trở nên già. Tuổi già không thuộc vào người tôn giáo vì người đó sống từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc tươi tắn thế. Người đó vẫn còn trẻ. Người đó yêu sự sống sâu sắc tới mức sự sống nuôi dưỡng tuổi trẻ của người đó. Người già đơn giản ngụ ý là ai đó đã bị sự sống bác bỏ và giờ đang sẵn sàng bị bỏ vào thùng rác, bị vứt đi. Đã bị dùng rồi, giờ không có nhu cầu về ông ấy.
Người tôn giáo không bao giờ trở nên già, đó là lí do tại sao bạn không bao giờ thấy tượng Phật như người già. Ông ấy đã trở nên già, ông ấy đã sống tám mươi năm, nhưng bạn không bao giờ thấy bức tượng Phật, hay Mahavira hay Krishna hay Rama là già, không. Chúng ta không bao giờ vẽ một bức tranh nào về họ là già vì chúng ta biết người tôn giáo không bao giờ già đi. Thân thể già đi, nhưng đó không phải là vấn đề; ý thức vẫn còn trẻ và tươi tắn.
Người tôn giáo không bao giờ trở thành triết gia. Điều đó là không thể được. Điều đó không có trong chính bản tính của mọi sự. Khó cho triết gia trở nên có tính tôn giáo, vì ông ấy sẽ phải quay lại. Quay trở lại là ngược với bản tính, nhưng là có thể. Hiếm khi điều đó xảy ra, rất hiếm khi, nhưng điều đó là có thể; người ta có thể quay lại. Nhiều điều được tham gia, đầu tư có đó – toàn thể sự sống đã đầu tư vào triết học; khó mà quay lui. Triết gia, tới chính lúc cuối cùng, vẫn liên tục nhấn mạnh vào các lí thuyết của họ, vẫn còn bị giới hạn trong chúng.
Đây là bốn cách sống sự sống. Người tôn giáo sống sự sống mà không trở thành chuyên gia, người đó không bao giờ trở thành chuyên gia vì sự sống là bao la thế – làm sao bạn có thể công bố tri thức chuyên gia được? Sự sống là vô hạn thế, vô thuỷ, vô chung, làm sao bạn có thể trở thành thông thái về nó được? Thực ra bạn càng biết nhiều, bạn càng cảm thấy rằng bây giờ bạn biết ít hơn. Việc biết của bạn càng trở nên lớn hơn, bạn càng cảm thấy dốt nát mạnh hơn. Khi tri thức trở thành tuyệt đối, người có tính tôn giáo đơn giản cảm thấy rằng ông ấy chẳng biết gì. Ông ấy không phải là chuyên gia.
Cho nên nếu bạn thấy bất kì ai là chuyên gia trong tôn giáo, biết rõ người đó không phải là người tôn giáo. Người đó có thể thuộc về bộ môn giả về thượng đế học. Thượng đế học là đồng tiền giả cố lừa mọi người rằng nó là tôn giáo. Ki tô giáo đã chết vì thượng đế học; quá nhiều thượng đế học làm chết ngạt nó.
Người Do Thái đã không thể giết được Jesus. Họ đã đóng đinh ông ấy, nhưng ông ấy đã sống sót. Thế rồi những người theo thượng đế học – và Ki tô giáo đã tạo ra những nhà thượng đế học lớn; thực ra Ki tô giáo đã không tạo ra bất kì cái gì khác, chỉ thượng đế học mục ruỗng đã làm ngạt thở Jesus hoàn toàn – họ đã sát hại ông ấy. Jesus đã không bị sát hại trên đồi Golgotha, ông ấy đã bị sát hại ở Vatican.
Tôn giáo bao giờ cũng bị thượng đế học giết chết; đó là sự trưởng thành nguy hiểm, ung thư. Tôn giáo không bao giờ làm cho bạn thành chuyên gia, nó không bao giờ làm cho bạn thành học giả. Người có mắt không bao giờ có thể trở thành học giả vì sự sống không phải là lí thuyết, nó không phải là kinh sách; nó không phải là giả thuyết để được học, nó là huyền để được sống. Và bạn càng chuyển nhiều vào trong huyền này, bạn càng bị mất hút.
Một ngày tới khi sự sống hiện hữu còn bạn không hiện hữu. Một ngày tới khi bạn bị tan biến hoàn toàn. Sóng đã biến mất trong đại dương. Đây là điều cuối cùng, điều tối thượng – điều ở Ấn Độ chúng ta đã gọi là samadhi, chứng ngộ, sambodhi. Khi bạn không còn nữa bạn đã trở thành vị phật.
Từ “Y như vậy”, Ch.4 Hỏi chuyên gia
