Điều đó giống như Shankara thường nói đi nói lại; ông ấy thường dùng một biểu dụ: Một lữ khách đang đi trong đêm tối. Đột nhiên ông ta thấy một con rắn đang chuyển động. Ông ta trở nên sợ, ông ta chạy lùi lại. Nhưng không có rắn – chỉ chiếc dây thừng nằm trên phố, và dây thừng này đã chuyển động vì gió thổi tới và xê dịch nó.
Ông ta đã nhìn thấy chiếc dây thừng chuyển động, chỉ hơi rung rinh trong dây thừng, và ông ta nghĩ: “Nó là rắn!” Ông ta phóng chiếu thành rắn, trở nên sợ, sợ dường như con rắn này là thực, và chạy lui khỏi chỗ đó. Nhưng ông ta phải đi tiếp, ông ta phải đi qua con rắn đó.
Thế là ông ta hỏi ai đó. Người này nói, “Không có rắn đâu, vì rắn không được thấy ở phần này của đất nước. Ông không cần sợ. Có thể nó chỉ là dây thừng.”
Nhưng lữ khách này sẽ không nghe. Ông ta nói, “Đích thân tôi trông thấy nó, và không chỉ tôi đã thấy nó, nó còn chuyển động, và nó dường như là con rắn rất dài và đen, nguy hiểm!”
Thế rồi người khác khi nghe kể về toàn thể đối thoại này mang tới chiếc đèn và ông ta nói, “Lại đây, đi theo tôi.” Người này cũng biết rằng ở phần này của đất nước, rắn không được thấy đâu cả. Ông ta cũng biết rằng nhiều khả năng đó sẽ là dây thừng, vì đôi khi ông ta cũng đã đương đầu với dây thừng trên phố và nghĩ rằng chúng là rắn, và về sau bao giờ người ta cũng thấy rằng không có rắn – rắn không được thấy ở khu vực đó. Nhưng bạn không thể nói cho người này, “Không có rắn đâu, đừng sợ. Tiến lên đi, đừng bận tâm về nó.” Điều đó sẽ chẳng giúp gì mấy. Ông ta mang chiếc đèn. Biết rõ rằng không có rắn, dầu vậy ông ta vẫn mang đèn. Người này đi đằng sau chiếc đèn. Họ tới chỗ đó. Không cần nói bất kì cái gì: với chiếc đèn người này có thể thấy nó chỉ là dây thừng. Ông ta cười, cám ơn người đã mang chiếc đèn, và tiến lên trước.
Salih là người sẽ mang tới chiếc đèn, biết rõ rằng không có rắn, chỉ là dây thừng. Rabiya sẽ chỉ đưa ra phát biểu này, “Không có rắn được thấy ở phần này của đất nước. Đừng ngu; tiến lên đi.” Bà ấy là đúng tuyệt đối, nhưng vô dụng. Phát biểu này sẽ không giúp gì cho người này. Phát biểu này có thể được hiểu chỉ bởi những người biết phần đó của đất nước, người sống ở đó – nhưng với họ điều đó không được cần tới.
Nếu tôi mà nghe theo Rabiya việc nói với tôi rằng cửa không bị đóng chắc sẽ là vô dụng, vì tôi cũng biết điều đó. Vấn đề không phải là về tôi, vấn đề là về những người không biết. Nếu điều đó được nói cho họ, việc đó sẽ trở thành cản trở.
Đây đã từng là quan sát của tôi: Krishnamurti đã không giúp đỡ cho mọi người, ông ấy đã tạo ra nhiều cản trở. Và ông ấy đã từng nói về chân lí và không cái gì khác. Ông ấy đã cản trở nhiều người vì ông ấy nói, “Chính ông đạt tới chân lí.” Điều đó là tuyệt đối đúng, không ai có thể giúp được bạn – điều đó nữa cũng đúng. Nhưng khẳng định này đã không giúp cho bất kì ai, nó đã gây cản trở. Nhiều người nghe ông ấy đã trở nên rất bản ngã. Họ nghĩ: “Không ai có thể giúp được chúng ta. Không thầy nào được cần. Không tôn kính, không tin cậy – một mình chúng ta là đủ.” Và họ đã không đạt tới đâu cả. Họ đã không trở nên khiêm tốn qua điều đó, họ đã trở thành những kẻ bản ngã.
Krishnamurti nói không cần thiền nào cả. Đúng tuyệt đối, đúng một trăm phần trăm. Nhưng những người đã nghe ông ấy đã không đạt tới trạng thái mà ông ấy ngụ ý bởi “không cần thiền.” Và họ là người khổ như bất kì người nào khác. Họ tới tôi và họ nói, “Chúng tôi hiểu rằng không thiền nào được cần, nhưng dầu vậy chẳng cái gì đã xảy ra cho chúng tôi.” Thế là tôi bảo họ, “Thế thì tập thiền đi. Bạn đã không thiền rồi, giờ bạn thử thiền vậy.”
Nhưng họ nói, “Điều này không đúng, vì Krishnamurti nói không cần thiền nào.” Bây giờ ông ấy đã tạo ra rào chắn cho thiền, và bởi việc ông ấy nói rằng không cần thiền, những người này đã trở nên bị nghiện với ý tưởng về không cần thiền.
Tôi cũng biết rằng không cần thiền nào, nhưng phát biểu đó chỉ tới sau khi bạn đã thiền trong một thời gian lâu, lâu dài. Khi bạn đã từng gõ cửa liên tục, một ngày nào đó đột nhiên bạn trở nên nhận biết rằng cửa là mở: “Nó không đóng, sao mình gõ cửa?” Nhưng việc nhận ra này tới qua việc gõ cửa trong hết năm nọ tới năm kia, và thậm chí trong nhiều kiếp. Việc gõ không mở cửa, việc gõ phá vỡ giấc ngủ của bạn. Bản thân việc gõ tạo ra tình huống trong đó bạn trở nên tỉnh táo, xô ra khỏi giấc ngủ của bạn, làm rung chuyển giấc ngủ của bạn.
Khi tôi nói thiền, tôi biết rằng qua thiền không ai đạt tới, nhưng qua thiền bạn đạt tới điểm mà không thiền nào trở thành có thể. Chừng nào bạn chưa thiền, làm sao “không thiền nào” sẽ trở thành có thể? Người ta phải trải qua thiền, và mạnh mẽ và toàn bộ nhất có thể được. Không cái gì được bỏ ra. Bạn phải mang toàn bộ năng lượng của bạn vào cho nó. Bạn phải đập đầu bạn vào tường. Không phải là tường sẽ vỡ và cửa sẽ mở ra đâu – cửa bao giờ cũng mở rồi, nhưng bằng việc đập đầu bạn vào nó, đột nhiên bạn sẽ thoát ra khỏi giấc ngủ của bạn. Mơ sẽ tan vỡ, không phải cửa. Cửa bao giờ cũng mở rồi.
Tôi sẽ kể cho bạn một giai thoại. Chuyện xảy ra: Một người tới Long Thọ, nhà huyền bí Phật giáo lớn, và là nhà giả kim thuật vĩ đại nhất mà Ấn Độ đã từng tạo ra. Người này nói, “Tôi muốn thiền, nhưng tôi không thể thiền được. Tôi cố tập trung vào tên của Thượng đế, nhưng tâm trí tôi liên tục trượt đi đây đó. Tôi hoàn toàn quên mất tên của Thượng đế, và các thứ khác tới trong tâm trí. Tâm trí của tôi là đám đông, và tôi không thể quản lí được nó theo bất kì cách nào. Xin giúp tôi với.”
Long Thọ nhìn người này và nói, “Quên Thượng đế đi. Nói cho ta một điều: ông có yêu ai đó không?”
Người này cảm thấy hơi lúng túng, ngượng ngùng. Anh ta nói, “Thầy đã hỏi và tôi không thể là không thực với thầy. Nhưng đừng cười tôi, tôi là người ngu. Tôi chẳng yêu ai cả; tôi chỉ yêu mỗi con trâu cái của tôi. Nhưng tôi thực sự yêu nó, nó là sinh linh đẹp.”
Long Thọ nói, “Điều đó sẽ có tác dụng, vì có gì khác biệt dù ông yêu Thượng đế hay trâu cái. Ngay cả trâu cũng là một Thượng đế – nữ thượng đế. Cho nên điều đó sẽ có tác dụng. Ông cứ đi tới chuồng trâu, và ngồi bên trong chuồng, và ông liên tục nghĩ chỉ một điều thôi – rằng ông đã trở thành trâu.”
Người này nói, “Điều đó được, tôi có thể làm điều đó. Thực ra, tôi tự hỏi làm sao thầy đã dần biết điều đó, vì đôi khi tôi nghĩ… tôi yêu con trâu của mình nhiều tới mức đôi khi tôi nghĩ sự việc sẽ ra sao nếu tôi trở thành trâu trong kiếp sống tiếp của tôi.”
Long Thọ nói, “Ông làm đi, và đừng ra khỏi điều đó chừng nào ta chưa tới và yêu cầu ông ra khỏi điều đó.”
Một ngày trôi qua. Hai ngày trôi qua. Ngày thứ ba trôi qua. Vào ngày thứ tư, buổi sáng, Long Thọ tới chuồng và ông ấy nói với người này, “Bây giờ mời ông ra.” Người này cố, cố nhưng ông ta không ra nổi. Long Thọ nói, “Chuyện gì vậy?”
Người này nói, “Thầy thấy không? cửa nhỏ thế… và thầy không thấy sừng của tôi à? Tôi không thể ra khỏi nó!” Ba ngày, liên tục nghĩ rằng mình là trâu, trâu, trâu…. Anh ta đã tự thôi miên bản thân mình: anh ta đã là trâu! Bất kì cái gì bạn nghĩ, bạn trở thànnh. Suy nghĩ tạo ra sự đồng nhất của bạn.
Người này bắt đầu khóc. Anh ta nói, “Giờ dường như là tôi sẽ không bao giờ có khả năng ra khỏi chuồng này cả đời tôi. Và trong ba ngày tôi đã đói và khát, và giờ tôi không thể ra được. Xin thầy giúp tôi với!” Và nước mắt bắt đầu lăn dài trên mặt anh ta.
Long Thọ nói, “Giờ thì khó rồi, ta có thể thấy điều đó là khó thế. Giờ ông phải quay lại và lại trở thành người. Giờ nghĩ rằng ông là người và không là trâu.”
Người này phải nghĩ trong ít nhất ba giờ rằng anh ta là người và không là trâu – trong ba giờ trâu biến mất, ảo tưởng biến mất. Anh ta mở mắt ra. Anh ta bước ra vừa cười, và anh ta nói với Long Thọ, “Bất kì cái gì tôi cần, tôi đã đạt tới.”
Long Thọ nói, “Giờ ông biết rồi. Ông có thể thiền. Nhưng qua thiền người ta bắt đầu có những sự đồng nhất mới. Ông là người phàm tục; ông thiền, thế rồi ông trở thành người tâm linh: một sự đồng nhất mới. Nhưng là tâm linh cũng sai như là phàm tục. Điều thực chỉ xảy ra khi không có sự đồng nhất. Bây giờ đây là ảo tưởng mới. Nhưng nó giúp đỡ. Từ thế gian ông chuyển sang tâm linh. Từ việc là chủ hộ ông trở thành sannyasin. Từ là người vật chất ông trở thành tâm linh. Ông tạo ra ảo tưởng mới. Để vứt cái cũ ra, cái mới được cần tới.”
Nhưng, đi từ cái cũ sang cái mới, có kẽ hở giữa hai điều này trong đó bạn sẽ là không ai cả, và một khi tính không ai cả được nhận ra, bạn có thể đi theo nó. Thế thì không thiền nào được cần. Không phương pháp nào được cần, không kĩ thuật nào được cần.
Tôi chống lại kĩ thuật nhiều như Krishnamurti vậy, thậm chí còn nhiều hơn, nhưng tôi không nói cho bản thân tôi ở đây. Krishnamurti đang trong độc thoại; nó không phải là đối thoại. Ông ấy đang nói cho bản thân ông ấy, ông ấy không nói cho bạn, bạn chỉ là cái cớ. Ông ấy đang trong độc thoại.
Tôi đang nói cho bạn, bằng không thì phỏng có ích gì mà nói? Và khi tôi nói cho bạn, tôi nhìn vào nhu cầu của bạn. Và vấn đề không phải là: Chân lí là gì? Vấn đề là: Nếu tôi nói cái gì đó cho bạn, bạn sẽ làm gì về nó? Nếu tôi nói cửa không đóng, bạn sẽ thôi gõ cửa. Đó là kết luận logic. Nếu tôi nói không phương pháp nào được cần, bạn sẽ bỏ phương pháp, nhưng thế thì bạn sẽ vẫn còn hệt như bạn vẫn vậy.
Người có từ bi phải nghĩ tới cách người khác sẽ phản ứng với phát biểu của mình. Phát biểu không phải là vấn đề – cách bạn phản ứng với phát biểu mới là vấn đề: năng lượng nào nó tạo ra trong bạn, nó dẫn bạn tới đâu. Nếu điều đó dẫn bạn tới chân lí, hướng tới cửa mà bao giờ cũng mở, thế thì tôi cũng sẽ nói: Gõ đi, và liên tục gõ.
Một ngày nào đó bạn sẽ nhận ra rằng Rabiya là đúng, Salih đã không đúng. Nhưng dầu vậy, bạn sẽ cảm thấy biết ơn Salih và không biết ơn Rabiya, vì không có Salih bạn chắc đã không bao giờ có khả năng nhận ra rằng Rabiya đã là đúng. Điều này là phức tạp. Rabiya không thể là thầy, Salih có thể là thầy; Krishnamurti không thể là thầy, Patanjali có thể là thầy – vì là thầy ngụ ý rằng người chứng ngộ đang đặt quan hệ bản thân ông ấy với người dốt. Và khi dốt nát và chứng ngộ gặp gỡ, nhất định có việc xảy ra. Trong việc xảy ra đó, người dốt sẽ đóng góp cái gì đó, và cái gì đó sẽ được đóng góp bởi người đã chứng ngộ. Cái gì đó sẽ là sai, cái gì đó sẽ là đúng. Và toàn thể nghệ thuật của thầy là làm sao mang bạn ra, dần dần, từ từ, từng bước một, từng tầng một, hướng tới bản thân thầy.
Ông ấy phải thoả hiệp với bạn. Để giúp bạn đi hướng tới ông ấy, ông ấy phải đi hướng tới bạn. Trong việc tới đó, ông ấy sẽ nói mọi thứ mà không phải là tuyệt đối đúng, không thể vậy. Ông ấy sẽ phải phát minh ra các thứ theo cách tuỳ tiện. Chúng giống như những chiếc thuyền. Bạn dùng chúng, và khi bạn đã dùng chúng, khi bạn đã đi qua sông, bạn bỏ chúng ở sông và bạn đi tiếp. Chúng như những chiếc thang. Bạn đi qua chúng, và thế rồi chúng là vô dụng. Chúng là phương tiện, không phải mục đích.
Salih đang nói cái gì đó như phương tiện. Rabiya đang nói về mục đích. Cả hai là đúng. Đến cuối, Rabiya sẽ được thấy là tuyệt đối đúng. Nhưng Salih là đúng lúc bắt đầu, và bắt đầu là kết thúc, vì nếu không có bắt đầu thì không thể có kết thúc. Nhớ điều này: bạn phải chăm nom cái bắt đầu. Cái kết thúc sẽ chăm nom cho bản thân nó. Rabiya, Krishnamurti, Tilopa – nếu bạn quên họ, không cái gì bị mất. Họ là những cái kết thúc. Nhưng nếu bạn quên Patanjali, Phật, Bồ đề đạt ma, Salih, thế thì mọi thứ bị mất, vì họ là cái bắt đầu.
Bạn chăm nom tới cái bắt đầu và cái kết thúc sẽ chăm nom cho bản thân nó. Cái kết thúc đi theo sau cái bắt đầu. Liên tục gõ cửa đi. Liên tục gõ cửa. Và tôi biết rằng cửa đã không bao giờ đóng, nó mở. Nhưng dầu vậy bạn phải gõ – chỉ thế thì nó sẽ mở cho bạn, vì qua việc gõ, bạn sẽ mở với nó.
Từ “Y như vậy”, Ch.3 Tình huống mở và đóng
