Jesus có cứu thế giới khỏi tội lỗi không

Osho ơi, Jesus đã nói rằng việc hi sinh của ông ấy trên cây chữ thập đã là vì cứu rỗi cho thế giới khỏi tội lỗi của người.

Xin thầy bình luận về điều này.

 

Anand Geetam,

Điều đầu tiên cần được hiểu về người như Jesus là ở chỗ bất kì cái gì nhà thờ chấp nhận làm tăng trưởng quanh một người như ông ấy, nó nhất định là sai. Điều nhà thờ Ki tô giáo nói về Christ không thể là đúng. Thực ra các linh mục Ki tô giáo không đại diện cho Christ chút nào. Ông ta là cùng giáo sĩ cũ trong vỏ ngoài mới, cùng giáo sĩ cũ những người đã chịu trách nhiệm sát hại Jesus. Giáo hoàng không phải là loại người khác.

Không có khác biệt gì dù đó là thể chế Do Thái hay thể chế Ki tô giáo hay thể chế Hindu; mọi thể chế vận hành theo cùng cách.

Jesus là người nổi dậy, cũng như Phật là vậy hay Lão Tử là vậy. Khi nhà thờ bắt đầu thiết lập bản thân nó, nó bắt đầu phá huỷ tính nổi dậy của Jesus, Phật, vì việc nổi dậy không thể đi cùng với thể chế. Nó bắt đầu áp đặt ý tưởng riêng của nó – một khi Jesus mất rồi rất dễ áp đặt ý tưởng riêng của bạn. Nó bắt đầu chọn lọc cái gì cần giữ trong Kinh Thánh và cái gì không giữ. Nhiều điều đã bị bỏ đi, nhiều thứ đã không được đưa vào trong Kinh Thánh. Chẳng hạn, Phúc âm Thomas không được đưa vào Tân Ước. Điều đó mới được khám phá ra vài năm gần đây – và đó là phúc âm quan trọng nhất. Bốn phúc âm đã được đưa vào thì chẳng là gì khi so sánh với nó, nhưng nó là rất có tính nổi dậy.

Dường như là Thomas đã đơn giản tường trình lại Jesus mà không làm ô nhiễm, không làm vấy bẩn, thông điệp của ông ấy. Điều đó phải là lí do tại sao cuốn phúc âm này đã không được đưa vào trong phiên bản có thẩm quyền của Tân Ước. Và những cuốn phúc âm đã được đưa vào, chúng cũng đã bị hiệu chỉnh. Trong nhiều thế kì các cuộc hội nghị đã liên tục hiệu chỉnh chúng, phá huỷ chúng, bóp méo chúng.

Tôi biết Jesus vì tôi biết thiền. Việc biết Jesus của tôi không phải qua Kinh Thánh, nó không qua thượng đế học Ki tô giáo. Tôi biết trực tiếp Jesus. Tôi biết Jesus vì tôi biết bản thân tôi; đó là cách biết của tôi với mọi chư phật.

Khoảnh khắc bạn biết phật tính riêng của bạn, bạn đã đi tới biết mọi chư phật; kinh nghiệm là cùng một điều. Mọi khác biệt là trong tâm trí; khoảnh khắc bạn siêu việt trên tâm trí không có khác biệt nào còn lại. Làm sao có thể có khác biệt trong rỗng tuyệt đối? Hai rỗng chỉ có thể là đích xác cùng một thứ. Tâm trí nhất định là khác vì chúng bao gồm các ý nghĩ. Khi có mây trên trởi thế thì từng đám mây là khác, nhưng khi không có mây chút nào thế thì bầu trời là một và cùng một thứ.

Tôi không biết Jesus qua thượng đế học Ki tô giáo; tôi biết ông ấy trực tiếp. Và việc biết của tôi là ở chỗ ông ấy không thể nói dưới dạng hi sinh – điều đầu tiên, chính điều đầu tiên. Người như Jesus không nói dưới dạng hi sinh; nó là mở hội, không phải hi sinh. Ông ấy đang đi gặp Thượng đế của mình vừa múa, vừa hát. Nó không phải là hi sinh; ông ấy không phải là kẻ tử vì đạo. Nhà thờ ki tô giáo cố làm cho ông ấy thành kẻ tử vì đạo vĩ đại nhất, người vĩ đại nhất đã hi sinh bản thân mình để cứu rỗi thế giới khỏi tội lỗi của con người. Ngay chỗ đầu tiên đó không phải là hi sinh – hi sinh có vẻ như kinh doanh – nó là mở hội! Jesus đang mở hội sống và chết của mình.

Thứ hai: không ai có thể giải quyết vấn đề của người khác, không ai có thể cứu thế giới. Và bạn có thể thấy điều đó: thế giới vẫn như vậy. Hai mươi thế kỉ đã trôi qua và các linh mục Ki tô giáo liên tục nói những điều vô nghĩa, rằng ông ấy đã hi sinh bản thân mình để cứu thế giới. Nhưng việc cứu thế giới ở đâu? Hoặc ông ấy đã thất bại, ông ấy đã không thể điều khiển được… điều đó họ không thể chấp nhận, rằng ông ấy đã thất bại. Thế thì cái gì đã xảy ra? Thế giới dường như vẫn đích xác là cùng một thứ – không cái gì đã thay đổi! Nhân loại vẫn còn trong cùng khổ sở. Nhưng Jesus không thể đã nói, Ta đã tới để cứu thế giới.

Nhưng điều bao giờ cũng xảy ra khi nhà thờ bắt đầu thiết lập bản thân nó, nó phải tạo ra những ý tưởng như vậy, bằng không ai sẽ nghe theo các linh mục? Jesus là việc cứu rỗi – không chỉ điều đó mà còn là việc cứu rỗi duy nhất!

Mới hôm nọ tôi đã nhìn vào cuốn sách: Jesus, con đường duy nhất. Tại sao lại con đường duy nhất? Phật không là con đường sao? Lão Tử không là con đường sao? Zarathustra không là con đường sao? Moses không là con đường sao? Mohammed không là con đường sao? Có vô hạn con đường đạt tới Thượng đế. Tại sao làm Thượng đế thành nghèo thế? – duy nhất một con đường sao?

Nhưng các linh mục Ki tô giáo không quan tâm tới Thượng đế: ông ta quan tâm tới việc tạo ra kinh doanh. Ông ta phải tuyên bố rằng Jesus là con đường duy nhất, rằng mọi con đường khác là sai. Ông ta đang đi tìm khách hàng.

Đó là lí do tại sao mọi tôn giáo đều tạo ra người phát xít và người cuồng tín. Mọi tôn giáo đều tuyên bố, Con đường của ta là con đường duy nhất đúng – chỉ qua ta các ông mới có thể đạt tới Thượng đế. Nếu các ông đi trên con đường khác nào đó các ông mang định mệnh xuống địa ngục, các ông phải chịu định mệnh.” Đây là cách nghĩ phát xít và điều này tạo ra người cuồng tín. Và mọi người tôn giáo là cuồng tín, và thế giới đã chịu khổ rất lớn từ cách tiếp cận cuồng tín này. Đây là thời gian, thời gian chín muồi bây giờ, để bỏ mọi thái độ phát xít và cuồng tín.

Jesus là một con đường, nhưng con đường này phải được bước đi. Con đường này có thể vẫn cứ nằm đó; nó sẽ không giúp bạn. Chỉ bởi việc ở đó, chỉ bởi việc bị đóng đinh, Jesus không thể là cứu tinh của thế giới – bằng không cứu rỗi chắc đã xảy ra! Thế thì chúng ta làm cái gì bây giờ? Thế thì các linh mục đang làm gì bây giờ? Giáo hoàng đang làm gì bây giờ?

Mới hôm nọ ai đó đã hỏi: ‘Osho ơi, thầy có nghe thấy không? Giáo hoàng mới đã làm phép màu?’

Vâng, tôi đã nghe: ông ấy đã làm người mù thành què. Các giáo hoàng này còn có thể làm cái gì khác? Những giáo hoàng này đang làm cái gì bây giờ? Việc cứu thế giới đã xảy ra rồi! Giờ không tôn giáo nào được cần và không nhà thờ nào được cần. Ngay cả Christ cũng không được cần tới thêm nữa! Công việc được hoàn thành rồi. Tôi đã nghe:

 

Một thanh niên về từ đại học y với huy chương vàng; anh ta đứng đầu đại học này. Bố anh ta cũng là bác sĩ điều trị. Ông bố nói, “Giờ vì con đã về bố muốn đi lên núi nghỉ ngơi. Trong nhiều năm bố thậm chí đã không có một ngày nghỉ. Giờ con chăm lo hoạt động của bố và trong một tháng bố muốn đi lên núi.”

Thế là ông già này đi lên núi. Sau một tháng khi ông ta quay về chàng tiến sĩ trẻ đón người bố ở sân bay và nói, ‘Bố ơi, bố có biết không? – bà già mà bố đã từng điều trị trong ba mươi năm và đã không thể xoay xở chữa khỏi – con đã chữa cho bà ấy trong vòng một tháng!’

Ông bố cốc đầu cậu con và nói, “Mày đã phá huỷ toàn thể việc kinh doanh rồi! Chính vì bà ấy mà mày có thể vào đại học y. Và tao còn hi vọng rằng em trai mày cũng sẽ trở thành bác sĩ. Mày ngu lắm! Mày đã làm gì? Bà đó ở trong kinh doanh của chúng ta! Mày đã kết liễu toàn thể nghề nghiệp cả đời tao!”

 

Nếu Jesus đã thực sự làm công việc cứu rỗi, thế thì chẳng ích gì trong việc tới của Mohammed – Mohammed tới sau Jesus. Thế thì chẳng ích trong việc tới của Nanak, người sáng lập ra Sikh giáo, chẳng ích gì trong việc tới của Kabir. Ông ấy đã đóng cửa tiệm rồi! Nhưng điều đó đã không xảy ra.

Phật nói: “Chư phật chỉ có thể chỉ ra con đường.”

Nhưng các đệ tử cuồng tín bao giờ cũng muốn công bố…. Nói gì tới Jesus? – ngay cả người Jaina cũng công bố rằng Mahavira đã tới thế giới để cứu nhân loại. Bây giờ điều đó có thể hơi chút liên quan tới Jesus vì ông ấy nói theo cách mà ông ấy có thể rất dễ bị diễn giải sai, nhưng Mahavira là rất rõ ràng. Ông ấy nói trong những thuật ngữ dứt khoát rằng không ai có thể cứu người khác: “Ta đã không tới để cứu bất kì ai. Nếu ta có thể cứu bản thân ta, điều đó là đủ.” Ngay cả một người như Mahavira người đã phát biểu điều này một cách tuyệt đối, đệ tử của ông ấy – munis của người Jaina và các sư Jaina và các học giả Jaina – vẫn liên tục tuyên bố rằng ông ấy đã tới để cứu nhân loại.

Tại sao mọi người truy đuổi nhân loại? Và làm sao bạn có thể xoay xở làm điều đó? Bạn đã không tạo ra khổ cho thế giới cho nên làm sao bạn có thể phá huỷ được nó? Nếu Jesus là nguyên nhân của khổ của thế giới, thế thì chắc chắn ông ấy có thể rút nó ra. Nếu ông ấy là người đã cầm tù bạn, ông ấy có thể mở cổng, mở khoá cửa và bảo bạn đi ra, và bạn được tự do. Nhưng ông ấy không là người làm điều đó. Bạn đã làm nó; địa ngục của bạn được bạn tạo ra. Jesus có thể làm được gì về điều đó?

Nhưng logic ngu này đã ăn rất sâu vào tâm trí nhân loại – bởi lí do nào đó. Chúng ta bao giờ cũng muốn ai đó khác chịu trách nhiệm – cho khổ của chúng ta, cho hạnh phúc của chúng ta, chúng ta bao giờ cũng muốn ai đó khác chịu trách nhiệm. Chúng ta không muốn chịu trách nhiệm! Để né tránh trách nhiệm chúng ta trở nên bị sập bẫy trong những loại ý tưởng này.

Bây giờ, người Ki tô giáo nói Adam và Eve đã phạm tội nguyên thuỷ và toàn thể nhân loại bị khổ. Điều đó là ngu xuẩn rành rành thế! Các nhà khoa học nói rằng nhân loại đã tồn tại trong hàng triệu năm. Hàng triệu năm trước, một đôi, Adam và Eve, đã phạm tội và chúng ta đang chịu khổ vì điều đó. Bạn có thể nghĩ về điều nực cười nào hơn không? – rằng bạn bị cầm tù vì hàng triệu năm trước đây ai đó đã phạm tội. Bạn đã không phạm nó, làm sao bạn có thể khổ vì nó? Và tội nguyên thuỷ gì họ đang nói tới? Nó chẳng là nguyên thuỷ cũng chẳng là tội! Điều Adam đã làm là hiện tượng đơn giản: anh ta đã không vâng lời bố.

Mọi đứa trẻ phải không vâng lời bố. Khi mà đứa trẻ vẫn còn vâng lời bố, nó không bao giờ trở nên chín chắn. Điều đó không là gì nguyên thuỷ, nó là rất đơn giản và tự nhiên. Điều đó rất tâm lí. Một tuổi sẽ tới khi mọi đứa trẻ phải nói không với bố mẹ. Nếu nó không nói không với bố mẹ, nó sẽ không có xương sống; nó sẽ là vô xương sống. Nếu nó không thể nói không với bố mẹ, nó sẽ là nô lệ cho cả cuộc đời của nó. Nó sẽ không bao giờ đạt tới tính cá nhân.

Adam và Eve đã không phạm bất kì tội nào; họ đơn giản trở thành chín chắn. Họ đã nói không, họ đã không vâng lời. Khi con bạn đi ra sau nhà và bắt đầu hút thuốc lá, đừng lo nghĩ quá nhiều; nó đơn giản không vâng lời bạn. Đó là một phần của trưởng thành. Nếu nó không bao giờ không nghe lời bạn, lo nghĩ đi. Đem nó tới nhà phân tâm – cái gì đó sai với nó. Nếu nó bao giờ cũng vâng lời bạn thế thì nó không có hồn; nó là bất bình thường, nó là không bình thường.

Hạnh phúc đi khi con bạn không vâng lời bạn. Cám ơn Thượng đế rằng bây giờ nó đã bắt đầu đi hướng tới việc trở thành một cá nhân. Chính là chỉ bằng việc không vâng lời, việc nổi dậy, mà đứa trẻ đạt tới tính cá nhân đích thực. Nếu bố mẹ khôn ngoan họ sẽ hạnh phúc.

Và tôi nghĩ Thượng đế không thể ngu thế như các linh mục Ki tô giáo vậy. Thượng đế phải đã rất hạnh phúc vào ngày Adam và Eve không vâng lời; ông ấy phải hân hoan. Ông ấy phải ca bài ca khi nói, “Giờ con ta đang trở nên trưởng thành.” Tôi không thể thấy ông ấy bực bội. Tôi không thể quan niệm được Thượng mà mà không thể hiểu hiện tượng tâm lí đơn giản thế.

Bạn phải cho Thượng đế của bạn chút ít thông minh nhiều hơn Sigmund Freud! Chính sự kiện đơn giản của cuộc sống là tới mức từng đứa trẻ phải không vâng lời. Điều đó không phải là tội – không vâng lời không phải là tội. Và cái gì là nguồn gốc về nó? Nó không là cái gì duy nhất và nó đã không chỉ xảy ra từ hàng triệu năm trước: nó xảy ra mỗi lần đứa trẻ bắt đầu lớn lên. Bạn sẽ thấy nó xảy ra trong con của bạn ở đâu đó quãng gần ba hay bốn tuổi đứa con bắt đầu khẳng định tự do của nó.

Đó là lí do tại sao nếu bạn muốn nhớ cuộc sống của bạn, bạn chỉ có thể nhớ ngược trở lại tới bốn hay nhiều nhất tới ba tuổi; bên ngoài điều đó tất cả là tối tăm. Tại sao? Bạn không có tính cá nhân, do đó không có kí ức. Bạn đã đạt tới tính cá nhân đầu tiên của bạn khi bạn là ba hay bốn tuổi. Con gái đạt tới ở quãng ba tuổi, con trai đạt tới ở quãng gần bốn tuổi; chúng bao giờ cũng tụt lại sau, và điều này sẽ là hình mẫu cả đời của chúng. Rõ ràng chồng bước ở phía trước, nhưng sâu bên dưới anh ta bao giờ cũng ở đằng sau vợ.

Tôi đã nghe một câu chuyện:

 

Đại đế Akbar có lần đã hỏi các thượng thư của mình, “Vợ ta đã nói với ta rằng mọi thượng thư của ta đều là kẻ sợ vợ. Điều đó có đúng không? Ta muốn biết sự thật và xin đừng cố lừa ta. Nếu ta thấy rằng các ông đã lừa ta, thế thì chết sẽ là hình phạt. Cho nên đứng vào hàng bên phải là tất cả những ai là chồng sợ vợ, và đứng vào hàng bên trái là những người không sợ vợ.”

Tất cả trừ một người chuyển sang hàng các ông chồng sợ vợ – bối rối, ngần ngại, nhưng họ không muốn là giả dối với Vua. Họ biết hoàn toàn rõ, “Ông ấy sẽ đi vào tìm hiểu sâu, và sớm hay muộn, nếu ông ấy triệu vợ chúng ta tới, chúng ta sẽ bị bắt. Cho nên tốt hơn cả là nói điều đó một lần cho xong.”

Nhưng một người, người mà nhà vua không bao giờ nghĩ là rất quả cảm, người đã là người hèn nhất, lại đứng một mình. Nhà vua nói, “Ta lấy làm sung sướng. Ít nhất có một người không sợ vợ.”

Người này nói, “Đợi đã! Xin đừng hiểu lầm thần. Khi thần từ nhà tới vợ thần đã nói, ‘Tránh đám đông.’ Đó là lí do tại sao thần đứng đây – chỉ để tránh đám đông. Nếu bà ấy mà biết rằng thần đã đứng trong đám đông thì sẽ có khó khăn, tâu bệ hạ, và thần không muốn có bất kì khó khăn nào.”

 

Quãng độ tuổi ba hay bốn. Đó là lí do tại sao tôi kể chuyện ngụ ngôn này về Adam và Eve có nhiều khía cạnh thế; tôi không bao giờ mệt mỏi nói về nó từ các góc độ khác nhau. Chính Eve đã là người đầu tiên không vâng lời – điều đó ngụ ý từ một năm trước. Adam tỉnh ngộ ra chậm hơn một chút; thực ra anh ta đã bị Eve thuyết phục.

Nếu thế giới này thực sự được bỏ lại cho tự do, thế thì đàn bà sẽ cám dỗ đàn ông, không phải đàn ông cám dỗ đàn bà; đó sẽ là tiến trình tự nhiên. Và thực ra điều đó đích xác là điều xảy ra ngay bây giờ, nhưng theo cách rất tinh tế. Đàn bà cám dỗ người nam, nhưng cám dỗ theo cách tinh tế tới mức tâm trí nam thô không thể hiểu được điều đó. Tâm trí nam thô nghĩ, “mình đang chủ động làm mọi sự,” còn đàn bà liên tục cười khẩy bên dưới; cô ấy biết ai đang kéo dây. Cô ấy không bao giờ tiến một bước về phần riêng cô ấy mà thấy được; bạn không thể thấy được điều đó. Cô ấy bao giờ cũng cho phép đàn ông tiến tới cô ấy; cô ấy có thể đợi. Cô ấy tin cậy vào năng lực riêng của cô ấy để kéo đàn ông lại. Cô ấy không muốn vẫy đuôi; cô ấy bao giờ cũng xoay xở, thuyết phục đàn ông vẫy đuôi.

Đó là điều đã xảy ra: Eve đã ăn quả trước hết, đã không vâng lời Thượng đế, và thế rồi Adam làm theo. Đây không phải là cái gì đó đã xảy ra một lần; nó bao giờ cũng xảy ra. Nó xảy ra cho mọi đứa trẻ và điều tốt là việc đó xảy ra. Chính quãng bốn tuổi mà đứa trẻ bắt đầu cảm thấy một loại tính cá nhân của riêng nó; nó bắt đầu xác định bản thân nó.

 

Lanahan, một tù chính trị Irish, trốn khỏi trại giam bằng việc đào một đường hầm chui vào sân trường học. Khi anh ta nhô lên trong không trung Lanahan không thể đừng mà hét lên, tôi tự do, tôi tự do!”

“Điều đó chẳng là gì cả,” bé gái nói, “Tôi lên bốn.” (free-three)

 

Có một thời gian mà đứa trẻ muốn công bố cho thế giới rằng “Tôi đây!” rằng “Tôi có đây!” Nó muốn định nghĩa bản thân nó, và cách duy nhất để định nghĩa bản thân nó là bằng việc không vâng lời. Cho nên chẳng có gì nguyên thuỷ về điều đó và cũng chẳng có gì như tội; đó là quá trình trưởng thành đơn giản. Và vì Ki tô giáo đã từng phủ nhận điều đó như quá trình trưởng thành đơn giản, nó đã không giúp cho nhân loại trở nên chín chắn.

Mọi tôn giáo đã từng cố giữ nhân loại vẫn còn không chín chắn, chưa đến tuổi trưởng thành, ấu trĩ. Tất cả họ sợ rằng một khi nhân loại trở nên chín chắn thế thì họ sẽ không còn bất kì giá trị nào; họ sẽ mất mọi vẻ rực rỡ. Họ sẽ không có khả năng khai thác nhân loại trưởng thành; họ chỉ có thể khai thác trẻ con.

Vậy nhân loại đã phạm tội gì để cho Jesus được cần tới để cứu thế giới?

Tôi muốn làm cho bạn tuyệt đối rõ ràng rằng không cần bất kì cứu rỗi nào. Thứ hai: nếu bạn cảm thấy có bất kì nhu cầu nào, điều đó không thể được thực hiện bởi bất kì người nào khác ngoại trừ bản thân bạn. Thứ ba: bạn không sống trong tội; bạn đang sống trong tự nhiên – nhưng nếu tự nhiên bị kết án bạn bắt đầu cảm thấy có tội. Và đó là bí mật thương mại của các tu sĩ: làm cho bạn cảm thấy có tội.

Tôi không nghĩ Jesus đã nói rằng hi sinh của ông ấy trên cây chữ thập là vì để cứu thế giới khỏi tội của con người. Các linh mục đã áp đặt ý tưởng của họ lên Jesus. Tân Ước đã được viết ra sau Jesus nhiều thế kỉ, và thế rồi trong nhiều thế kỉ nó đã được biên tập, thay đổi, và lời mà Jesus đã nói đã là trong ngôn ngữ không còn sống nữa – Aramaic. Nó thậm chí đã không là tiếng Do Thái – một phương ngữ của tiếng Do Thái, nhưng khác biệt theo nhiều cách.

Khi lời của Jesus được dịch ra – đầu tiên sang tiếng Latin – thay đổi lớn đã xảy ra: chúng mất phẩm chất nguyên bản, hương vị. Chúng mất cái gì đó rất bản chất: hồn của chúng. Và khi từ tiếng Latin chúng được dịch sang tiếng Anh, cái gì đó đã lại bị mất. Chẳng hạn, vài từ bạn có thể suy ngẫm: ‘Repentance’ là một trong những từ then chốt vì Jesus dùng nó lặp đi lặp lại, khi nói với đệ tử của ông ấy: Repent! Repent, vì ngày phán xử là rất gần. Ông ấy lặp lại từ đó nhiều lần tới mức nó phải đã có giá trị vô cùng với ông ấy. Nhưng điều đó ngụ ý cái gì – ‘repent’? Hỏi linh mục Ki tô giáo; ông ấy sẽ nói, “Đây là một từ đơn giản; mọi người biết nó ngụ ý cái gì: ăn năn về tội của ông, ăn năn về phạm tội của ông, ăn năn về mọi điều ông đã làm.” Và linh mục có thể giúp; ông ta có thể giúp bạn trong các cách ăn năn. Nhưng từ ‘repent’ chẳng liên quan gì với ăn năn.

Lời của Jesus dành cho repent đơn giản ngụ ý ‘quay về’; nó không ngụ ý ăn năn chút nào. Nó ngụ ý ‘quay vào trong’, ‘quay về cội nguồn’, nó ngụ ý, ‘quay về con người riêng của bạn’. Đó là điều thiền tất cả là gì: quay về cội nguồn, quay về trung tâm xoáy lốc, quay về chính con người riêng của bạn.

Bây giờ bạn có thể thấy sự khác biệt. Khi bạn dùng từ tiếng Anh ‘repent’ có cái gì đó rất xấu với nó: tội, có tội, linh mục, thú tội; đây là bầu khí hậu của từ tiếng Anh ‘repent’. Nhưng từ Aramaic đơn giản ngụ ý trở về cội nguồn, trở về! Quay về, đừng phí thời gian.

Và đó là cách điều đó đi với gần như mọi từ then chốt.

Gần như không thể nào hiểu được Jesus qua các linh mục. Cách thức thuần khiết duy nhất, cách có thể duy nhất, là đi vào trong, quay vào bên trong. Ở đó bạn sẽ gặp ý thức Christ. Cách duy nhất để hiểu Christ là trở thành một Christ. Đừng bao giờ là người Ki tô giáo – là một Christ! Đừng bao giờ là Phật tử – là vị phật! Đừng bao giờ là người Hindu – là một Krishna! Và nếu bạn muốn là một Krishna, Christ hay Phật, thế thì bạn không cần đi vào trong kinh và bạn không cần hỏi các học giả: bạn sẽ phải hỏi người huyền bí cách đi vào trong.

Đó đích xác là điều tôi đang làm ở đây: giúp bạn trở nên nhận biết về bản thân bạn. Và khoảnh khắc bạn biết bản thân bạn, bạn sẽ ngạc nhiên: bạn chưa bao giờ có tội. Tội là bịa đặt của tu sĩ để tạo ra mặc cảm trong bạn.

Bạn không cần bất kì cứu rỗi nào. Mọi điều bạn cần là lay bạn chút ít để bạn có thể thức dậy. Bạn không cần các tu sĩ. Bạn chắc chắn cần người đã thức tỉnh, vì chỉ người đã thức tỉnh có thể lay những người đang ngủ say và mơ. Và nhân loại cần được tự do khỏi mặc cảm, tự do khỏi ý tưởng về tội, tự do với ý tưởng về ăn năn. Nhân loại cần hồn nhiên, và các linh mục không cho phép bạn là hồn nhiên; họ làm biến chất tâm trí của bạn.

Cảnh giác với linh mục. Họ là những người đã đóng đinh Jesus – làm sao họ có thể diễn giải Jesus? Họ là những người bao giờ cũng chống lại chư phật – và điều mỉa mai là ở chỗ chung cuộc họ trở thành người diễn giải.

 

Từ “Tĩnh lặng và biết”, Ch.2 Không tội, không đức hạnh

Để lại một bình luận