Bạn có quan sát kĩ bức hoạ Thiền không? Có vài điều bạn sẽ ngạc nhiên khi xem. Hình người là rất nhỏ, nhỏ tới mức nếu bạn không nhìn thật kĩ bạn sẽ bỏ lỡ họ. Cây thì lớn, núi là lớn, mặt trời và mặt trăng, sông và thác nước là lớn, nhưng con người là rất nhỏ.
Trong bức hoạ phương Tây con người là rất lớn; người bao phủ toàn thể vải vẽ. Bây giờ điều này là không đúng, điều này không đúng tỉ lệ, điều này không đúng. Người che phủ toàn thể vải vẽ có tính rất bản ngã – nhưng hoạ sĩ mang tính bản ngã. Thiền sư là đúng: người chỉ là phần tí hon trong vũ trụ vĩ đại này. Núi là lớn và thác nước là lớn và cây là lớn và sao và trăng và mặt trời – và người ở đâu?
Mới hôm nọ tôi đã xem một bức hoạ Thiền. Người nhỏ thế, hai hình người nhỏ đi qua chiếc cầu, nhỏ tới mức tôi đã bỏ lỡ họ vì núi cao và cây che phủ toàn thể bức hoạ. Nhưng có một ghi chú bên dưới bức hoạ viết, “Xin đừng bỏ lỡ: có hai hình người trên cầu.” Tôi đã phải nhìn rất gần – đúng, họ đã ở đó, hai hình người, rất nhỏ, đang bước đi tay trong tay, đi qua cầu. Đây là tỉ lệ đúng; đây là bức hoạ phi bản ngã.
Trong các bức hoạ phương Tây bạn sẽ thấy toàn thể vải vẽ bị phủ kín. Trong bức hoạ Thiền chỉ một phần nhỏ của vải vẽ bị che phủ, và phần còn lại là trống. Nó có vẻ như phí phạm: nếu bạn định làm bức hoạ nhỏ như thế, sao không dùng vải vẽ nhỏ? Sao dùng tấm vải vẽ lớn thế che phủ cả bức tường và chỉ trong góc mới làm bức hoạ nhỏ? Nhưng thiền nhân nói đó là cách mọi sự là vậy: “Để trống nhiều thế khắp xung quanh. Toàn thể bầu trời là trống – làm sao chúng ta có thể bỏ bầu trời ra được? Nếu chúng ta bỏ bầu trời ra bức hoạ sẽ là phi thực.”
Bây giờ không bức hoạ phương Tây nào có cái nhìn đó, rằng chúng ta được bao quanh bởi trống rỗng: đất là rất nhỏ, nhân loại là một phần rất nhỏ của đất, và trống rỗng vô hạn bao quanh tất cả…. Để là thực, để là thực có tính tồn tại, trống rỗng không thể bị bỏ ra ngoài; nó phải có đó. Đây là cái nhìn khác, từ phía khác.
Bức hoạ Thiền không được thực hiện theo cách phương Tây. Trong bức hoạ phương Tây bạn sẽ thấy rằng hoạ sĩ liên tục hoàn thiện: trên một lớp sơn sẽ có lớp sơn khác và rồi lại lớp sơn khác nữa, và ông ấy liên tục hoàn thiện và tô sửa và làm nhiều thứ. Hoạ sĩ Thiền không thể làm điều đó; điều đó là không thể được. Họ dùng một loại giấy nào đó, giấy gạo, trên đó bạn có thể làm chỉ một nét vẽ. Bạn không thể sửa nó; bạn phải để nó như nó vậy. Giấy là mỏng tới mức nếu bạn cố sửa nó toàn thể việc vẽ sẽ bị mất. Tại sao giấy gạo được dùng? Để cho tâm trí không có gì mà làm – tâm trí thường xuyên cố hoàn thiện, làm mọi thứ tốt hơn. Sự việc phải từ trong lòng, chỉ một nét thôi. Nếu lòng bạn đầy nó, nó sẽ tới đúng. Nhưng bạn không thể sửa nó; việc sửa tới từ tâm trí.
Bức hoạ Thiền không bao giờ được sửa; nếu bạn sửa nó, việc sửa của bạn bao giờ cũng sẽ chỉ ra rằng bạn không là Thầy. Nó phải đi ra từ tính thiền của bạn, im lặng của bạn. Việc cảm của bạn về khoảnh khắc đó được lan toả trên giấy gạo.
Nghệ thuật ở ngay giữa, cách đều với khoa học và tôn giáo. Nó có thể là cả hai. Nó có thể là nghệ thuật khoa học, như nó vậy ở phương Tây – đó là điều bạn ngụ ý, Ananda Prabhu. Nó có thể là nghệ thuật tôn giáo: bạn chưa biết bất kì cái gì về điều đó, vì trước khi bạn có thể biết bất kì cái gì về nó bạn sẽ phải biết thiền là gì.
Thiền không phải là trạng thái tập trung; nó không phải là trạng thái của tâm trí chút nào. Nó là trạng thái của vô tâm trí toàn bộ – và cũng không là trạng thái ngủ. Không tâm trí, không ngủ; không tâm trí, nhưng nhận biết toàn bộ. Từ nhận biết đó bạn mang tới phẩm chất khác cho nhạc, cho hoạ, cho thơ ca. Và từ tính thiền đó bạn có thể mang tới phẩm chất khác toàn bộ cho khoa học nữa. Nhưng trước khi điều đó có thể xảy ra chúng ta sẽ cần số đông người có tính thiền khắp quanh trái đất.
Đó là điều công việc của tôi là gì. Đó là điều tôi đang làm ở đây: tạo ra thiền nhân. Đó là yêu cầu đầu tiên. Nếu chúng ta muốn đem lại thế giới quan mới nơi khoa học và tôn giáo có thể gặp gỡ, chúng ta sẽ phải tạo ra nền móng trước; chỉ thế thì ngôi đền có thể được dựng lên trên nó. Thiền phải là nền móng.
Và đừng cố hoà giải mọi thứ: chỉ trở nên có tính thiền hơn. Hoà giải là trong thiền của bạn, vì trong thiền bạn trở nên có khả năng thấy rằng các mâu thuẫn chỉ là thấy bên ngoài, rằng những cái trái ngược chỉ là kẻ thù ở bề mặt nhưng sâu bên dưới chúng là bạn bè. Điều đó giống như hai bạn chơi cờ: trên bề mặt họ là kẻ thù, nhưng sâu bên dưới họ là bạn bè. Đó là lí do tại sao họ chơi cờ – họ là bạn bè; nhưng vì họ đang chơi cờ họ đang giả vờ là kẻ thù.
Đây là leela của sự tồn tại, trò chơi của sự tồn tại. Thượng đế đã phân chia bản thân ông ấy thành hai, vì đó là cách duy nhất để chơi trốn tìm. Đó là trò chơi hay nếu bạn hiểu nó là trò chơi. Đừng coi nó quá nghiêm chỉnh vì thế thì bạn sẽ không có khả năng thấy tính chơi đùa của nó.
Bạn hỏi tôi: Tại sao khó thế để có tính thiền và là nhà khoa học?
Nó không phải vậy. Có tính thiền là khó cho mọi người; nó không chỉ là vấn đề của nhà khoa học. Ananda Prabhu là nhà khoa học. Nhưng nó là cùng khó khăn như doanh nhân sẽ cảm thấy, nó là cùng khó khăn như thợ mộc sẽ cảm thấy. Nó không chỉ là cái gì đó mới cho nhà khoa học. Có thể về định lượng nó có hơi chút khó hơn, vì toàn thể tâm trí của ông ấy chỉ biết một cách vận hành, cách tập trung. Ông ấy chỉ biết một cách dùng tâm trí: hội tụ nó vào vật nào đó. Và thiền ngụ ý vẫn còn không hội tụ, chỉ vẫn còn mở, mở với mọi thứ.
Trong khi nghe tôi bạn có thể nghe theo hai cách. Cách khoa học là tập trung – điều tôi đang nói, tập trung vào nó. Điều đó nghĩa là đóng tâm trí bạn với mọi thứ khác: máy bay bay qua, và tầu hoả chạy ầm ầm, và giao thông trên đường và chim hót trên cây… đóng tâm trí bạn với mọi thứ. Chỉ để có một lỗ khoá nhỏ sẵn có cho tôi; chỉ nghe tôi. Đó là cách nhà khoa học nghe; ông ấy nhìn qua lỗ khoá vào sự tồn tại.
Người huyền bí đi ra khỏi phòng, đứng dưới bầu trời, hoàn toàn mở cho mọi thứ. Đó là cách nghe khác, cách thiền nhân nghe. Thế thì bạn liên tục nghe tôi, và nghe tiếng líu lo của chim đang diễn ra như bối cảnh cho nó. Và điều tôi nói thì tiếng líu lo của chim không thể quấy rối – không, không chút nào. Nó tôn cao cái đẹp của bài nói; nó cho bài nói mầu sắc, nó cho bài nói nhạc điệu. Và không chỉ tiếng líu lo của chim mà cả tiếng máy bay bay qua và tiếng ồn ngẫu nhiên tạo ra nhiều im lặng hơn trong tương phản.
Khi máy bay đã bay qua, bạn đột nhiên nghe tôi ở mức độ sâu hơn. Và khi máy bay bay qua và tiếng ồn có đó, bạn nghe cả hai. Bạn không trở nên bị rối. Bạn không nói bên trong, “Máy bay ngu này làm rối mình.” Máy bay không thể làm rối bạn được. Nhưng nếu bạn nói bên trong, “Máy bay ngu này đang làm rối mình,” việc nói của bạn sẽ là gây rối; khi bạn đang nói nó bạn sẽ mất dấu vết của tôi. Máy bay không thể làm rối bạn, nhưng phản ứng của bạn với nó nhất định làm rối.
Việc nghe có tính thiền ngụ ý mọi thứ đều được chấp nhận, được đón chào. Trong mọi tính đa chiều của nó vũ trụ được đón nhận. Bạn đơn giản mở từ mọi phía với mọi điều đang xảy ra. Và bạn sẽ ngạc nhiên. Điều đó mang lại im lặng lớn thế, im lặng cực kì tinh tế thế, im lặng sâu lắng thế.
Tập trung làm bạn mệt mỏi, thiền không bao giờ làm bạn mệt. Nhưng nó là khó cho mọi người, không chỉ cho nhà khoa học – vì chúng ta đã trở nên quen với hình mẫu nào đó trong cách nhìn mọi thứ. Bạn sẽ phải làm tan chảy hình mẫu của bạn; bạn sẽ phải trở nên lỏng lẻo hơn chút ít, linh động, và thiền sẽ tới với bạn. Đừng lo nghĩ về nó là khó cho nhà khoa học; ý tưởng đó có thể tạo ra khó khăn. Một khi bạn đã chấp nhận ý tưởng rằng nó là khó thế thì nó sẽ trở thành khó. Đừng mang ý tưởng đó; điều đó sẽ trở thành tự thôi miên, điều đó sẽ trở thành gợi ý. Nó không khó: thiền là thứ đơn giản nhất và dễ nhất trên thế giới. Chúng ta đã trở nên quen với tập trung. Chúng ta đã được bảo từ thời thơ ấu là phải tập trung: từ trường tiểu học tới đại học chúng ta đã được huấn luyện về tập trung. Đây là một loại tập cho quen; cần chút thời gian để bỏ thói quen cũ và học cái gì đó mà không phải là thói quen nhưng là chính bản tính của bạn.
Bạn nói: Tại sao không bao giờ có một xã hội mà trong đó khoa học bên trong và bên ngoài, khoa học của hoà nhã và yêu và khoa học của hung hăng và chết, sống trong hài hoà?
Bây giờ thời gian đã tới. Mọi thứ có thể xảy ra chỉ vào thời gian đặc biệt. Tôn giáo đã đi tới đỉnh tối thượng của nó trong chư phật; bây giờ khoa học cũng đi tới đỉnh tối thượng. Và chỉ khi hai điều này đã tăng trưởng thì việc gặp gỡ là có thể.
Hạt mầm không thể gặp được cây; hạt mầm sẽ phải trở thành cây. Chỉ thế thì, cao trong gió, trong mây, chúng mới có thể thì thầm với nhau, chúng mới có thể rơi vào yêu lẫn nhau, chúng mới có thể ôm choàng lẫn nhau, ôm ấp nhau – chúng mới có thể có đối thoại. Nhưng hạt mầm không thể có đối thoại với cây trưởng thành; điều đó là không thể được. Hạt mầm sẽ không biết ngôn ngữ, cây sẽ không hiểu ngôn ngữ của hạt mầm.
Tôn giáo đã ở trong trạng thái chín muồi trong gần năm nghìn năm. Khoa học vẫn đang tăng trưởng, đi tới chín muồi. Do đó tôi nói thời gian này là một trong những thời gian quí giá nhất. Bạn may mắn được sống ngày nay, vì cái gì đó vĩ đại mênh mông đang sắp xảy ra – và đó là việc gặp gỡ của khoa học và tôn giáo, gặp gỡ của Tây và Đông, gặp gỡ của tâm trí hướng ngoại và tâm trí hướng nội. Nó sẽ tạo ra người mới, người sẽ có khả năng di chuyển dễ dàng ra bên ngoài hay vào bên trong, người sẽ có khả năng di chuyển dễ dàng vào thế giới hướng ngoại của khoa học và vào thế giới hướng nội của tôn giáo – hệt như bạn đi ra ngoài nhà vào vườn và quay trở lại vào nhà. Điều đó không phải là vấn đề; bạn không cần bất kì hoà giải nào. Bạn không cần làm nỗ lực lớn mỗi lúc bạn đi ra khỏi nhà ra bãi cỏ – bạn đơn giản đi ra! Cảm thấy lạnh bên trong, và mặt trời đẹp và ấm ở bên ngoài: bạn đi ra bãi cỏ, bạn ngồi trên bãi cỏ. Về sau khi trời trở nên quá nóng bạn đơn giản đi vào vì có mát bên trong.
Hệt như bạn đi ra dễ dàng khỏi nhà và đi vào, người toàn bộ sẽ có khả năng đi vào khoa học và tôn giáo; cái bên trong và cái bên ngoài cả hai sẽ là của người đó.
Carl Gustav Jung đã chia con người thành hai loại: người hướng ngoại và người hướng nội. Phân loại của ông ấy là có liên quan cho quá khứ nhưng sẽ hoàn toàn vô dụng cho tương lai, vì người tương lai sẽ là cả hai cùng nhau. Trong quá khứ, chúng ta bao giờ cũng phân chia theo cách này, nhưng tương lai người sẽ không là đàn ông và sẽ không là đàn bà. Tôi không nói về mặt sinh học – về sinh học đàn bà sẽ là đàn bà, và đàn ông sẽ là đàn ông – nhưng về tâm linh đàn ông tương lai sẽ có nhiều phẩm chất nữ như đàn bà, và đàn bà sẽ có nhiều phẩm chất nam như đàn ông. Về mặt tâm linh họ sẽ không bao giờ được dán nhãn là đàn ông hay đàn bà thêm nữa. Và điều đó sẽ là giải thoát thực – không chỉ giải thoát của đàn bà, mà giải thoát của đàn ông nữa: giải thoát khỏi áo bó, giải thoát khỏi các phân loại cầm tù, giải thoát khỏi mọi cái nhãn.
Người sẽ không là người Hindu, người Mô ha mét giáo, người Ki tô giáo; người sẽ không là người Ấn Độ, người Đức, người Anh; người sẽ không là da trắng hay da đen. Không phải là mầu sắc sẽ biến mất – người da trắng sẽ là trắng và người da đen sẽ là đen – nhưng những điều này sẽ trở thành không liên quan, tầm thường, vô nghĩa; chúng sẽ không có tính quyết định. Người mới sẽ có ý thức vũ trụ, và nền tảng sẽ được đặt bởi gặp gỡ của khoa học và tôn giáo.
Từ “Tĩnh lặng và biết”, Ch.1 Luôn trên đá
