Thầy đã nói mọi người chứng ngộ, mọi tôn giáo, đồng ý ở một điều duy nhất. Bất đồng của họ là nhiều, nhưng có một đồng ý trong tất cả và đó là người bị đóng với thực tại, vì bản ngã của người đó – bản ngã là rào chắn duy nhất. Tại sao có chuyện mọi người đã chứng ngộ đồng ý chỉ vào một điều khi họ có thể trải nghiệm thực tại như nó vậy? Họ chắc không đồng ý trên nhiều điều vì họ không có mây mù hay rào chắn của bản ngã hiện diện để tô mầu nhận thức của họ sao?
Khi không còn mây nào nữa, khi nhận thức của bạn là rõ ràng, bạn thấy trời – nhưng trời là không thể xác định được, không thể mô tả được, avachya, không thể nói được. Không cái gì có thể được nói về nó, và bất kì cái gì bạn nói đều sẽ sai. Nhưng người chứng ngộ phải nói cái gì đó về nó, vì bạn liên tục hỏi và bạn không có năng lực nghe im lặng – cho nên họ phải nói cái gì đó!
Phật nói điều này, Christ nói điều khác; họ đã phát minh ra mọi thứ. Họ không thể đồng ý về những điều này. Đó là chọn lựa của Phật: khi ông ấy đối diện với bạn, ông ấy phải nói cái gì đó cho bạn, để truyền đạt cái gì đó cho bạn, vẫn biết hoàn toàn rõ rằng bất kì cái gì ông ấy đang nói đều sẽ bị hiểu lầm. Nhưng không có cách khác để có giao tiếp với bạn! Cho dù ông ấy muốn bạn tới gần ông ấy hơn, để hiểu im lặng của ông ấy, cho dù ông ấy muốn chia sẻ niềm vui của ông ấy với bạn, ông ấy sẽ phải dùng lời để gọi bạn tới ngày càng gần hơn.
Bây giờ, chính chọn lựa của ông ấy là dùng những lời nào đó. Christ chọn các lời khác; đó là chọn lựa của ông ấy. Patanjali lại chọn các lời khác, Lão Tử lại chọn các lời khác. Họ không đồng ý về những lời này, họ không thể đồng ý được. Không có nhu cầu – tất cả chúng là tuỳ tiện. Họ đồng ý về duy nhất một điều: bỏ bản ngã, bỏ tâm trí. Về điều đó tất cả đều đồng ý.
Thế thì cái gì xảy ra? – họ có những câu chuyện khác nhau để kể. Những câu chuyện đó tất cả đều là chuyện bịa; chúng chẳng liên quan gì tới thực tại. Chúng chỉ là thoả hiệp với bạn, chỉ để giữ tay bạn lâu hơn một chút để cho bạn có thể bị tiêm nhiễm với Phật. Chỉ để giữ tay bạn lâu hơn chút ít, vị phật phải nói với bạn.
Nếu ông ấy được phép theo cách riêng của mình, ông ấy sẽ không bao giờ nói. Chính các điều đó đã xảy ra: khi Phật trở nên chứng ngộ, trong bẩy ngày ông ấy vẫn còn im lặng. Chẳng có vấn đề đi để nói! Cái đã bùng nổ trong con người ông ấy đã là bao la thế, không có cách nào kể lại nó cho người khác. Đã không có một lời nào để chỉ dẫn hướng tới nó. Im lặng của ông ấy đã là tuyệt đối. Câu chuyện này là hay:
Các thần trên cõi trời trở nên rất bối rối, vì hiếm khi có chuyện xảy ra là một người trở thành vị phật, và nếu Phật giữ yên lặng thế thì thông điệp này sẽ bị mất. Và vài người đã có đó, những người có thể được Phật giúp. Và các thần đi tới Phật và cầu xin ông ấy: “Thầy nói đi, thưa thầy!”
Phật nói, “Nhưng có ích gì? Thứ nhất, bất kì điều gì ta nó sẽ không là đúng.”
Các thần nói, “Chúng tôi biết nó sẽ không là đúng, nhưng nó sẽ hấp dẫn vài người, và thế rồi dần dần, thầy có thể đưa họ tới chân lí. Để họ tới đã! Nếu thầy không nói, không ai sẽ bao giờ tới – thế thì làm sao thầy sẽ dẫn họ đi vào im lặng được? Để lời chỉ là cái bẫy, chỉ là bẫy, để bắt giữ mọi người. Để lời chỉ là sự cám dỗ, vì mọi người chỉ hiểu lời. Một khi họ bị bắt giữ trong mạng lưới các lời, thế thì thầy có thể đưa họ tới bất kì chỗ nào thầy muốn – nhưng trước hết để họ bị bắt đã!”
Phật lại nói, “Nhưng họ sẽ không hiểu – họ sẽ hiểu lầm. Họ bao giờ cũng làm điều đó – hiểu lầm – họ sẽ làm điều đó lần nữa. Có ích gì?”
Các thần nói, “Nhưng có vài người, rất ít, chắc chắn, người có thể được đếm trên đầu ngón tay – họ sẽ hiểu.”
Phật lại khăng khăng; ông ấy nói, “Vài người đó sẽ có khả năng hiểu ta, sẽ có khả năng đạt tới theo cách riêng của họ. Ta nghĩ rằng họ thực sự không cần ta. Có thể theo cách riêng của mình họ sẽ mất thời gian lâu hơn, nhưng những người có thể hiểu ta đều có nhận biết đủ – họ sẽ đạt tới chân lí theo cách riêng của họ. Ta không cần bận tâm về họ. Còn những người sẽ không hiểu ta, tại sao ta phải bận tâm về họ?”
Các thần gặp phải nhiều khó khăn làm sao thuyết phục Phật. Thế rồi họ hội ý trong nhóm của họ: “Làn gì đây? Người này dường như bướng bỉnh!” Họ thảo luận, tranh cãi trong nhóm của họ, và họ đưa ra một vấn đề logic. Họ nói với Phật, “Thầy đúng: có nhiều người sẽ không hiểu thầy, người chắc chắn sẽ hiểu nhầm thầy; với họ, việc nói của thầy là không được cần tới. Và có vài người sẽ hiểu thầy, nhưng họ là rất ít, và thầy đúng: họ sẽ đạt tới chân lí cho dù không có thầy. Nhưng giữa hai loại người này, thầy nghĩ không còn ai sao? Giữa hai loại người này có vài người sẽ không đi tới chân lí nếu họ không bị thầy bắt giữ. Và họ sẽ không hiểu lầm thầy. Họ có thể không có khả năng hiểu thầy ngay lập tức, nhưng họ sẽ không hiểu lầm thầy! Có một phân loại giữa hai phân loại này: xin nghĩ về những người đó.”
Và Phật đã không thể nào tìm ra được bất kì cái gì phản bác lại điều đó. Điều đó có vẻ logic thế – và Phật đã là người của logic. Ông ấy đã nói cho vài người đó. Nhưng bất kì cái gì ông ấy nói, có hai điều trong nó: một, phần phủ định của nó. Phần phủ định là: bỏ bản ngã, bỏ quan niệm về cái ngã. Về điều đó mọi người chứng ngộ đều đồng ý. Một khi bản ngã bị bỏ đi, thế thì cái gì xảy ra? Thế thì họ không đồng ý – không phải là chân lí là tách rời, nhưng chân lí là bao la.
Nghĩ mà xem: ba người mù được bác sĩ điều trị bảo cho, “Thuốc này sẽ giúp các ông, thuốc này sẽ chữa mắt các ông. Một điều là chắc chắn,” bác sĩ điều trị nói, “rằng mắt các ông phải được chữa, rằng chứng mù của các ông phải bị loại bỏ.” Bây giờ, cả ba người mù này được chữa và họ đang đứng ở đây trong vườn, và họ về nhà và cả ba người này kể lại điều họ đã thấy – bạn nghĩ họ sẽ đồng ý về điều đó không? họ có nói cùng điều không? Về một điều họ sẽ đồng ý, rằng chứng mù của họ đã biến mất. Nhưng cái gì xảy ra sau khi chứng mù biến mất sẽ là khác toàn bộ. Ai đó có thể đã thấy mầu sắc của cây, cầu vồng, mặt trời. Ai đó khác có thể đã không quan tâm tới cây và cầu vồng và mặt trời; có thể đã nhìn mọi người, các bộ mặt, mắt trẻ con cười, đùa; và ai đó khác có thể thấy cái gì đó khác.
Ba người mù đó sẽ đồng ý trên một điều, rằng chứng mù được loại bỏ đi sẽ là khác – mặc dầu thế giới họ mở mắt ra là một; nhưng nó là thế giới bao la, đa chiều. Họ sẽ chọn tương ứng với bản thân họ. Và việc chọn của họ sẽ phụ thuộc vào cái thích, cái không thích, tư chất, kiểu của họ.
Chẳng hạn, Phật nói: Khi bản ngã bị rơi rụng đi không có khổ. Chỉ nhìn vào lời của ông ấy: không khổ. Ông ấy không bao giờ dùng từ ‘phúc lạc’; bất kì khi nào ông ấy nói nó, ông ấy nói ‘không khổ’. Bây giờ điều này dường như là hơi chút nói vòng vo. Tại sao ông ấy phải nói ‘không khổ’?
Mahavira nói ‘phúc lạc’; khi bản ngã bị bỏ đi, bạn là phúc lạc hoàn toàn. Và Phật nói: Khổ biến mất; ông ở trong trạng thái không khổ. Có khác biệt lớn, chọn lựa của họ là khác, khuôn khổ của họ là khác. Mahavira bao giờ cũng thích những lời khẳng định. Phật bao giờ cũng thích những lời phủ định.
Và Phật nói: Với lời khẳng định có khó khăn, và khó khăn đó là ở chỗ chúng tạo ra tham – cho nên ông ấy sẽ không bao giờ dùng chúng. Chẳng hạn, nếu bạn nói về phúc lạc thế thì mọi người trở nên tham, ham muốn nảy sinh. Mọi người bắt đầu nghĩ, “Mình phải trở nên phúc lạc! Mình phải có phúc lạc này mà Phật đang nói tới – mình phải có nó.” Và vấn đề là: nếu bạn trở nên ham muốn phúc lạc, bạn sẽ không có phúc lạc. Chính ham muốn sẽ là vật cản trở.
Cho nên Phật nói: Bằng việc nói theo kiểu khẳng định ông đã phá huỷ khả năng này. Người đã trở nên tham hơn! Đầu tiên người đã tham về nhà và tiền và quyền và danh, bây giờ người tham về Thượng đế và phúc lạc và sat-chit-anand và chân lí – nhưng người vẫn tham. Bây giờ ham muốn của người thậm chí còn lớn hơn. Người bị vướng nhiều hơn vào ham muốn. Ông đã không giúp anh ta – ông thậm chí đã làm hại anh ta. Cho nên Phật nói: ta sẽ không dùng bất kì lời khẳng định nào. Mọi lời khẳng định đều tạo ra ham muốn trong tâm trí mọi người. Ta sẽ chỉ nói rằng không có khổ.
Điều đó có quan điểm nào đó, quan điểm có giá trị nào đó trong nó. Bạn không trở nên tham về không khổ. Cứ nghĩ về lời ‘không khổ’, ‘sẽ không có khổ’ – bạn không cảm thấy bất kì tham nào, bạn không cảm thấy rất nhiệt tình về trạng thái không khổ. Nó không tạo ra ham muốn. Và Phật nói: Duy nhất không ham muốn có thể là trạng thái được đạt tới.
Nhưng Mahavira cũng có quan điểm. Ông ấy nói: Nếu ông nói về không khổ, vô ngã, mọi người sẽ không cảm thấy nhiệt tình. Bây giờ điều Phật nghĩ sẽ không tạo ra ham muốn, Mahavira nghĩ mọi người sẽ cảm thấy không nhiệt tình. Ai cảm thấy nhiệt tình với không khổ? Tại sao người ta phải thiền trong nhiều năm chỉ để đạt tới không khổ? Điều đó có vẻ không rất hấp dẫn. Tại sao người ta đi vào sadhana – đi vào làm việc trên bản thân người ta – chỉ để đạt tới trạng thái không có cái ngã sao? Bạn sẽ không có đó. Chỉ để đạt tới trạng thái không có ngã, ai sẽ bận tâm? Mọi người sẽ trở nên không nhiệt tình; họ sẽ mất nghị lực, họ sẽ không bị hấp dẫn hướng tới tôn giáo. Cho nên Mahavira nói: Ta phải dùng những lời khẳng định – ‘phúc lạc’, ‘tự do’, ‘cái ngã tuyệt đối’.
Cả hai là đúng và cả hai là sai. Với lời, đó là vấn đề. Không lời nào là tuyệt đối đúng và không lời nào là tuyệt đối sai – điều đó phụ thuộc vào cách bạn nhìn vào những lời đó.
Đó là lí do tại sao họ không đồng ý trong bất kì cái gì khác. Chỉ về một điều họ đồng ý: rằng bản ngã phải bị loại bỏ.
Từ “Bước không chân, bay không cánh và nghĩ không tâm trí”, Ch.1 Bay không cánh
