Táu sinh của hồn

Osho ơi, với tôi dường như quan niệm Ki tô giáo về hồn là một với điều thầy ngụ ý bởi cái thực, người quan sát. Tại sao Jesus đã không nói về khả năng về tái sinh của hồn? Điều này dường như là khác biệt giữa các tôn giáo phương Đông và phương Tây. Thầy có thể nói cái gì đó về điều đó được không?

 

Jaap-Willem,

 

Jesus biết hoàn toàn rõ về tái sinh.

 

Có những dấu hiệu gián tiếp lan truyền khắp sách phúc âm. Mới hôm nọ tôi đã nói, trích dẫn Jesus: “Ta hiện hữu trước khi Abraham đã từng hiện hữu.” Và Jesus nói, “Ta sẽ quay lại.” Và có cả nghìn lẻ một tham chiếu gián tiếp tới tái sinh. Ông ấy biết điều đó hoàn toàn rõ, nhưng có lí do khác nào đó tại sao ông ấy đã không nói về điều đó, tại sao ông ấy đã không thuyết giảng nó.

Jesus đã từng tới Ấn Độ và ông ấy đã thấy điều đã xảy ra vì lí thuyết tái sinh. Ở Ấn Độ trong gần năm nghìn năm trước Jesus lí thuyết này đã được dạy. Và nó là chân lí, nó không chỉ là lí thuyết; lí thuyết này dựa trên chân lí. Người có hàng triệu kiếp sống. Điều đó đã được dạy bởi Mahavira, bởi Phật, bởi Krishna, bởi Rama; mọi tôn giáo Ấn Độ đều đồng ý với nó. Bạn sẽ ngạc nhiên mà biết: họ không đồng ý trên bất kì cái gì khác ngoại trừ lí thuyết này.

Người Hindu tin vào Thượng đế và hồn. Người Jaina không tin vào Thượng đế chút nào nhưng chỉ tin vào hồn. Và Phật tử không tin vào hồn lẫn Thượng đế. Nhưng về tái sinh cả ba đều đồng ý – ngay cả các Phật tử cũng đồng ý, những người không tin vào hồn. Một điều rất kì lạ… thế thì ai tái sinh? Ngay cả họ cũng không thể phủ nhận được hiện tượng tái sinh, mặc dầu họ có thể phủ nhận sự tồn tại của hồn; họ nói hồn không tồn tại nhưng tái sinh tồn tại. Và rất khó cho họ chứng minh tái sinh mà không có hồn; điều đó gần như không thể được. Nhưng họ đã tìm ra cách – tất nhiên nó rất tinh tế và rất khó hiểu thấu, nhưng chúng dường như là gần hơn, gần nhất với chân lí.

Dễ hiểu rằng có hồn và khi bạn chết thân thể bị bỏ lại cho đất và hồn đi vào thân thể khác, vào bụng mẹ khác; điều đó là điều đơn giản, logic, toán học. Nhưng Phật nói không có hồn nhưng chỉ có sự liên tục. Nó giống như khi bạn thắp nến buổi tối và đến sáng khi bạn thổi tắt nó, một câu hỏi có thể được hỏi từ bạn: Bạn có thổi tắt cùng ánh sáng mà bạn đã bắt đầu buổi tối không? Không, nó không phải là cùng ánh sáng đó, và vậy mà sự liên tục có đó. Ban đêm khi bạn thắp nến… ngọn lửa đó không còn đó nữa, ngọn lửa đó liên tục biến mất; nó được thay thế bởi ngọn lửa khác. Việc thay thế là nhanh tới mức bạn không thể thấy được kẽ hở, nhưng với các công cụ khoa học phức tạp thì có thể thấy được các kẽ hở: ngọn lửa này đi ra, ngọn lửa khác đi tới, cái kia đi ra, cái khác đi tới. Nhất định có những khoảng hở nhỏ, nhưng bạn không thể thấy được chúng bằng mắt trần.

Phật nói rằng cũng như ngọn lửa nến không là cùng một ngọn lửa – nó thay đổi liên tục, mặc dầu theo nghĩa khác nó vẫn là cùng ngọn lửa vì nó là cùng sự liên tục – đích xác giống điều đó, không có thực thể hồn trong bạn như là một vật nhưng là thứ giống ngọn lửa. Nó liên tục thay đổi, nó là sông.

Phật không tin vào danh từ, ông ấy chỉ tin vào động từ, và tôi hoàn toàn đồng ý với ông ấy. Ông ấy đã đi tới gần chân lí nhất; ít nhất theo cách diễn đạt của ông ấy thì ông ấy là sâu sắc nhất.

Nhưng tại sao Jesus, Moses, Mohammed – những cội nguồn của cả ba tôn giáo kia mà đã được sinh ra bên ngoài Ấn Độ – lại không trực tiếp nói về tái sinh? Vì lí do nào đó, và lí do là ở chỗ Moses đã nhận biết… vì Ai Cập và Ấn Độ đã từng trong liên hệ thường xuyên. Người ta ngờ rằng có thời châu Phi đã là một phần của châu Á và rằng lục địa này đã dần trôi giạt đi. Ấn Độ và Ai Cập đã được nối với nhau, do đó có nhiều sự tương đồng thế. Và không phải kì lạ mà Nam Ấn Độ mang mầu da đen; nó có một phần dòng máu da đen trong huyết quản, nó là thuộc về da đen – không toàn bộ, nhưng nếu châu Phi mà được nối với châu Á thế thì chắc chắn việc trộn lẫn của người Aryans với người da đen phải đã xảy ra, và thế thì Nam Ấn Độ trở thành da đen.

Moses phải đã nhận biết hoàn hảo về Ấn Độ. Bạn sẽ ngạc nhiên rằng Kashmir tuyên bố cả Moses và Jesus đều được chôn ở đó. Các mộ có đó, một mộ cho Moses và một mộ cho Jesus. Họ thấy điều đã xảy ra cho Ấn Độ qua lí thuyết tái sinh.

Vì lí thuyết tái sinh Ấn Độ đã trở nên rất lờ phờ; không có vội vàng. Ấn Độ không có cảm giác thời gian, thậm chí không có ngay cả bây giờ. Cho dù mọi người đều đeo đồng hồ vẫn không có cảm giác thời gian. Nếu ai đó nói, “Tôi sẽ tới lúc năm giờ chiều để gặp bạn,” điều đó có thể chẳng ngụ ý gì. Anh ta có thể xuất hiện lúc bốn giờ, anh ta có thể xuất hiện lúc sáu giờ, anh ta có thể không xuất hiện chút nào – và điều đó không bị coi là nghiêm trọng! Không phải là người đó không hoàn thành lời hứa của mình – không có cảm giác thời gian! Làm sao bạn có thể có cảm giác thời gian khi vĩnh hằng là sẵn có? Khi có nhiều kiếp sống thế, tại sao vội thế? Người ta có thể đi chầm chậm; người ta nhất định đạt tới ngày này hay ngày khác.

Lí thuyết tái sinh đã làm cho Ấn Độ thành rất lờ phờ, đờ đẫn. Nó đã làm cho Ấn Độ hoàn toàn vô ý thức về thời gian. Nó đã giúp mọi người trì hoãn. Và nếu bạn có thể trì hoãn tới mai, thế thì hôm nay bạn sẽ vẫn còn như bạn đã từng vậy và ngày mai không bao giờ tới. Và Ấn Độ biết cách trì hoãn không chỉ tới mai mà thậm chí tới kiếp sau.

Moses và Jesus cả hai đều đã tới thăm Ấn Độ, cả hai đã nhận biết. Mohammed không bao giờ tới thăm Ấn Độ nhưng đã hoàn toàn nhận biết, vì ông ấy ở rất gần với Ấn Độ và đã có giao thông thường xuyên giữa Ấn Độ và Arabia. Họ đã quyết định rằng tốt hơn cả là nói với mọi người, “Chỉ có một kiếp sống, đây là cơ hội cuối cùng – đầu tiên và cuối cùng – nếu ông bỏ lỡ nó, ông bỏ lỡ mãi mãi.” Đây là phương cách để tạo ra khao khát mãnh liệt, để tạo ra sự mãnh liệt trong mọi người tới mức họ có thể được biến đổi dễ dàng.

Thế thì câu hỏi nảy sinh: Mahavira, Phật và Krishna không nhận biết sao? Họ không nhận biết rằng lí thuyết tái sinh này sẽ tạo ra sự lờ phờ sao? Họ đã thử một phương cách khác toàn bộ. Và từng phương cách có thời của nó; một khi nó được dùng… nó không thể được dùng mãi mãi. Mọi người trở nên quen thuộc với nó. Khi Phật, Mahavira và Krishna thử phương cách tái sinh họ đã thử nó từ một góc độ khác toàn bộ.

Ấn Độ đã là nước rất giầu trong những ngày đó. Nó đã được coi là nước vàng của thế giới, nước giầu nhất. Và trong nước giầu vấn đề thực, vấn đề lớn nhất, là chán. Điều đó đang xảy ra bây giờ ở phương Tây. Bây giờ Mĩ ở trong cùng tình huống, và chán đã trở thành vấn đề lớn nhất. Mọi người bị chán hoàn toàn, chán tới mức họ muốn chết.

Krishna, Mahavira và Phật đã dùng tình huống này. Họ bảo mọi người, “Điều này không là gì cả, chán của một kiếp không là gì cả. Ông đã sống nhiều kiếp rồi, và nhớ, nếu ông không nghe ông sẽ sống nhiều kiếp thêm nữa; ông sẽ chán đi chán lại mãi. Nó là cùng bánh xe sống và chết chuyển động.”

Họ đã vẽ chán theo mầu tối tới mức những người đã chán với ngay cả một kiếp trở nên thực sự bị cuốn hút rất sâu với tôn giáo. Người ta phải gạt bỏ sống và chết; người ta phải thoát ra khỏi bánh xe này, cái vòng sinh tử luẩn quẩn này. Do đó điều đó có liên quan trong những ngày đó.

Thế rồi Ấn Độ trở nên nghèo. Một khi đất nước trở nên nghèo, chán biến mất. Người nghèo không bao giờ chán, nhớ lấy; chỉ người giầu có thể đảm đương được chán, đó là đặc quyền của người giầu. Người nghèo không thể cảm thấy chán; người đó không có thời gian. Cả ngày người đó làm việc; khi người đó về nhà, người đó mệt thế, người đó rơi vào giấc ngủ. Người đó không cần có nhiều nhiều thứ giải trí – tivi và phim và nhạc và nghệ thuật và bảo tàng – người đó không cần có tất cả những thứ này, người đó không thể có chúng. Giải trí duy nhất của người đó là dục: điều tự nhiên, sẵn có. Đó là lí do tại sao các nước nghèo liên tục sinh nhiều con cái hơn nước giầu – cách giải trí duy nhất.

Nếu bạn muốn giảm dân số của nước nghèo, cho họ nhiều giải trí vào. Cho họ máy thu hình, cho họ radio, phim – cái gì đó mà có thể giữ họ sao lãng khỏi dục.

Tôi đã nghe nói về một đôi người Mĩ rằng họ trở nên bị ám ảnh với tivi nhiều tới mức ngay cả khi làm tình họ vẫn liên tục xem tivi. Yêu trở thành phụ, ti vi trở thành chính. Họ không muốn bỏ lỡ chương trình đang chiếu.

Nước nghèo chỉ biết một giải trí vì nó không thể đảm đương được bất kì cái gì khác; nó chỉ có thể đảm đương giải trí tự nhiên, có sẵn. Cho nên nước nghèo liên tục tạo ra người; nó trở nên ngày càng đông hơn. Và họ không chán với sự sống. Họ có sự sống nào? Trước hết bạn phải có sự sống để bị chán với nó. Bạn phải có tiền để bị chán với nó. Bạn phải có nhiều đàn bà để bị chán với họ. Bạn phải có nhiều trải nghiệm về thế giới để được kết thúc với nó.

Khoảnh khắc Ấn Độ trở nên nghèo lí thuyết tái sinh trở thành lối thoát, hi vọng – thay vì là chán nó trở thành hi vọng, một khả năng để trì hoãn. “Mình nghèo trong kiếp sống này. Không phải lo nghĩ gì cả; có nhiều kiếp. Kiếp sau mình sẽ phấn đấu chăm chỉ hơn một chút và mình sẽ giầu hơn. Kiếp sống này tôi đã lấy người đàn bà xấu. Không phải lo nghĩ gì về điều đó; đó chỉ là vấn đề của một kiếp. Lần sau mình sẽ không làm cùng sai lầm này nữa. Lần này mình khổ từ nghiệp quá khứ của mình. Kiếp này mình sẽ không phạm bất kì điều sai nào để cho mình có thể tận hưởng kiếp sống sắp tới.” Điều đó trở thành việc trì hoãn.

Jesus đã thấy điều đó, rằng phương cách này không còn có tác dụng theo cách nó đã được ngụ ý để làm việc. Tình huống đã thay đổi. Giờ Jesus phải tạo ra phương cách khác: chỉ có một kiếp sống thôi – cho nên nếu bạn muốn có tính tôn giáo, nếu bạn muốn thiền, nếu bạn muốn trở thành sannyasin, làm điều đó ngay bây giờ đi – vì ngày mai là không tin cậy. Có thể không có ngày mai.

Do đó phương Tây đã trở nên quá ý thức tới thời gian; mọi người đều đang trong vội vã. Việc vội vã này là vì Ki tô giáo. Phương cách này đã lại thất bại. Không phương cách nào có thể có tác dụng mãi mãi.

Kinh nghiệm riêng của tôi là ở chỗ một phương cách đặc biệt có tác dụng chỉ khi thầy còn sống, vì thầy là hồn của nó; thầy điều khiển nó theo cách mà nó có tác dụng, một khi thầy mất rồi, phương cách này không dùng được nữa hay mọi người bắt đầu tìm ra những cách diễn giải mới cho nó.

Bây giờ ở phương Tây phương cách này đã thất bại hoàn toàn; bây giờ nó đã trở thành vấn đề. Mọi người thường vội vàng, căng thẳng, lo âu, vì chỉ có một kiếp sống. Jesus đã muốn họ nhớ: vì có một kiếp sống, hãy nhớ Thượng đế. Và họ đang làm gì? Thấy rằng chỉ có một kiếp sống họ muốn uống, ăn và vui vẻ, vì không có kiếp sống khác. Cho nên mê đắm hết mức bạn có thể đi. Vắt kiệt toàn thể nước quả của cuộc sống ngay bây giờ! Và ai bận tâm về cái gì sẽ xảy ra vào Ngày Phán xử? Ai biết liệu Ngày Phán xử có đó hay không?

 

Ông giáo sư tại trường đại học dành cho con gái đã là một ông già thực sự bẩn. Ông ấy không thể giảng bài mà không đưa ra bình luận tục tĩu. Chung cuộc lũ con gái quyết định rằng lần sau mà ông ấy làm như thế thì tất cả họ sẽ đứng lên khỏi bàn và bỏ lớp học.

Sáng hôm sau ông giáo sư vào phòng và bắt đầu giảng bài ngay lập tức: “Này, các cô gái, tôi nghe nói rằng mới hôm qua một con tầu tới cảng với ba mươi thuỷ thủ da đen trên boong tầu. Tưởng tượng mà xem, các cô gái, ba mươi chim da đen khổng lồ….”

Vào lúc này cả lớp đứng dậy và bắt đầu đi ra khỏi phòng.

“Này, các cô gái,” ông giáo sư hét lên sau lưng họ, “Không cần vội. Họ sẽ ở lại đây thêm hai tuần nữa.”

 

Vội vã lớn đã nảy sinh ở phương Tây về mọi thứ, vì không có kiếp khác.

 

Mary và John cả hai cùng sống trong một nhà chung cư lớn ở thành phố New York. Một hôm họ gặp nhau và lập tức rơi vào yêu nhau, nhưng họ không làm bất kì việc gặp gỡ nào. Điều này diễn ra trong sáu tháng cho tới khi John chỉ không thể chịu được căng thẳng thêm nữa và mời cô ấy tới căn hộ của anh ta để uống nước. Ngần ngại cô ấy nói có và ngay khi họ lên tới tầng của anh ta, họ đóng cửa lại đằng sau và lao vào phòng ngủ và nằm vật xuống giường.

Sau vài phút John giải thích với giọng khàn khàn, “Nghe này, anh rất tiếc, nhưng nếu mà anh biết rằng em còn trinh anh chắc đã lấy nhiều thời gian hơn.”

Mary đáp, “Ôi giời, giá mà em biết rằng anh có nhiều thời gian hơn, em chắc đã cởi quần ra rồi!”

 

Vội vàng thế! Tốc độ là nỗi ám ảnh, nhanh hơn và nhanh hơn. Không ai bận tâm bạn đang đi đâu, nhưng bạn phải đi nhanh; phát minh ra xe có tốc độ hơn.

Và toàn thể việc này đã xảy ra vì phương cách này. Nó đã có tác dụng vào thời của Jesus. Ông ấy đã liên tục nói với mọi người, “Cẩn thận! Ngày Phán xử là rất gần rồi. Ông sẽ thấy kết thúc của thế giới trong chính kiếp sống riêng của ông và không có kiếp khác. Và nếu ông bỏ lỡ ông sẽ bị tống vào địa ngục vĩnh hằng!” Ông ấy đơn giản tạo ra bầu không khí tâm lí. Nó có tác dụng khi ông ấy còn sống và nó có tác dụng cho vài ngày thêm nữa khi ông ấy đã mất. Nó đã liên tục có tác dụng trong vài ngày vì các đệ tử gần nhất, người đã có cái gì đó của bầu khí hậu của Jesus với họ, hào quang nào đó, nhưng thế rồi điều đó đã tạo ra chính hiệu quả đối lập.

Nó đã tạo ra nền văn minh trần tục nhất mà thế giới đã từng biết tới. Và ham muốn đã là ở chỗ ý tưởng về một kiếp sống làm cho mọi người tỉnh táo và nhận biết rằng họ sẽ tìm và kiếm Thượng đế và họ sẽ bỏ mọi ham muốn khác và mọi bận bịu khác. Toàn thể kiếp sống của họ chắc sẽ trở thành cuộc tìm kiếm nhất điểm trụ, cuộc truy tìm Thượng đế. Đó đã là ý tưởng đằng sau phương cách này. Nhưng kết quả tối thượng là ở chỗ mọi người đã trở nên tuyệt đối trần tục, vì không có kiếp sống khác, chỉ một kiếp sống thôi – bạn tận hưởng nó nhiều nhất có thể được! Tận hưởng nó, không trì hoãn nó tới ngày mai.

Phương cách Ấn Độ đã thất bại vì mọi người trở thành lờ phờ. Nó có tác dụng với Phật. Ông ấy thực sự đã tạo ra một trong những phong trào vĩ đại nhất trên thế giới. Hàng nghìn người đã từ bỏ các kiếp sống của họ, đã trở thành sannyasin. Điều đó ngụ ý họ đã cống hiến toàn thể năng lượng của họ cho việc tìm chân lí, vì ông ấy đã tạo ra bầu không khí chán tới mức bạn chắc sẽ bị chán nếu bạn bỏ lỡ.

Nhưng điều đã xảy ra về sau đã chính là cái đối lập. Nó bao giờ cũng sẽ là vậy. Thầy nhất định bị hiểu lầm. Và mọi người tinh ranh thế, ngoại giao thế, họ bao giờ cũng có thể tìm ra cách để phá huỷ toàn thể phương cách.

Jesus biết hoàn hảo rằng sự sống là vĩnh hằng, tái sinh là sự kiện. Ông ấy nhắc tới điều đó theo cách gián tiếp, có thể với những đệ tử rất thân tín ông ấy nhắc tới điều đó, nhưng không nói cho quần chúng – bởi lẽ đơn giản: ông ấy đã thấy rằng nó đã thất bại ở Ấn Độ, cái gì đó khác phải được thử.

Tôi đang tạo ra nhiều phương cách vì các phương cách khác đã thất bại. Tôi biết hoàn toàn rõ rằng các phương cách của tôi sẽ vận hành chỉ khi tôi còn ở đây; chúng nhất định thất bại như mọi phương cách khác đã thất bại. Tôi không sống trong thiên đường của bất kì kẻ ngu nào cứ nghĩ rằng phương cách của tôi sẽ còn lại mãi mãi khi tôi tạo ra chúng. Khi tôi không ở đó, mọi người sẽ làm méo mó chúng. Nhưng điều đó là tự nhiên, điều đó phải được chấp nhận; không có gì để lo nghĩ cả.

Do đó những người ở đây, xin tỉnh táo và dùng các phương cách này sâu nhất có thể được. Khi tôi còn ở đây các phương cách này sẽ vận hành tốt hoàn hảo. Trong tay tôi chúng có thể là những tình huống lớn cho biến đổi bên trong, nhưng một khi tay tôi không còn thấy được thì cùng những phương cách này sẽ ở trong tay của các học giả uyên thâm và học giả, và thế thì cùng câu chuyện này sẽ được lặp lại như nó đã được lặp lại trong quá khứ.

Cẩn thận, có tính quan sát đi. Đừng làm phí thời gian.

 

Từ “Tĩnh lặng và biết”, Ch.4 Bạn là người hành hương cổ đại

Để lại một bình luận